Nghị định 35-CP được ban hành năm 1960 bởi Hội đồng Chính phủ nhằm quy định tạm thời các khoản ưu đãi dành cho gia đình của những quân nhân mất tích trong thời kỳ kháng chiến. Do hoàn cảnh chiến trường chia cắt và tình hình chiến đấu phân tán trước đây, nhiều quân nhân bị mất tin tức chưa thể xác định rõ nguyên nhân; vì vậy, chính sách này được ban hành nhằm kịp thời hỗ trợ, ổn định đời sống và động viên tinh thần cho thân nhân của họ trong thời gian các cơ quan chức năng tiếp tục tiến hành điều tra, xác minh.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với các gia đình có quân nhân mất tích trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, những người chưa rõ tung tích và đang trong quá trình điều tra, tìm kiếm thông tin.
Xác nhận tư cách và áp dụng chế độ ưu đãi chung
- Xác nhận các quân nhân biệt tin trong kháng chiến là quân nhân mất tích để làm cơ sở giải quyết chế độ chính sách cho gia đình họ.
- Gia đình của quân nhân mất tích được tạm thời hưởng các khoản ưu đãi tương tự như đối với gia đình của tử sĩ.
- Các chế độ ưu đãi cụ thể được thực hiện theo quy định tại Điều lệ ưu đãi gia đình quân nhân ban hành kèm theo Nghị định số 980-TTg ngày 27/7/1956 của Phủ Thủ tướng.
Chính sách ưu đãi về thuế nông nghiệp
- Mỗi quân nhân mất tích được tính là một nhân khẩu thuế trong gia đình để tính giảm trừ hoặc ưu đãi thuế nông nghiệp cho hộ gia đình đó.
- Chế độ ưu đãi thuế này được áp dụng liên tục cho đến khi quân nhân mất tích được cơ quan có thẩm quyền chính thức xác nhận là đã hy sinh hoặc còn sống ở một địa phương cụ thể. Khi có kết luận chính thức, cơ quan chức năng sẽ căn cứ vào tình hình thực tế để áp dụng chính sách thuế nông nghiệp phù hợp tiếp theo.
Chế độ trợ cấp một lần bằng sinh hoạt phí
Gia đình quân nhân mất tích được hưởng khoản trợ cấp một lần từ 3 tháng đến 6 tháng sinh hoạt phí của quân nhân đó (bao gồm cả các khoản phụ cấp tính theo tiêu chuẩn sinh hoạt phí của quân đội tại thời điểm ban hành điều lệ ưu đãi). Mức trợ cấp cụ thể được phân chia như sau:
- Đối với trường hợp có giấy báo mất tích ghi rõ ngày mất tích:
- Quân nhân có thời gian tại ngũ từ 3 năm trở xuống: Gia đình được hưởng mức trợ cấp tối thiểu là 3 tháng sinh hoạt phí.
- Quân nhân có thời gian tại ngũ trên 3 năm: Cứ mỗi nửa năm tại ngũ vượt quá mốc 3 năm, gia đình được cộng thêm nửa tháng sinh hoạt phí, tổng mức trợ cấp tối đa không quá 6 tháng sinh hoạt phí.
- Đối với trường hợp không rõ ngày mất tích (chỉ xác nhận biệt tin): Mức trợ cấp được tính dựa trên thời điểm tòng quân của quân nhân:
- Tòng quân trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1949: Gia đình được trợ cấp 6 tháng sinh hoạt phí.
- Tòng quân trong năm 1951: Gia đình được trợ cấp 4 tháng sinh hoạt phí.
- Tòng quân trong giai đoạn từ năm 1952 đến năm 1954: Gia đình được trợ cấp 3 tháng sinh hoạt phí.
- Điều kiện áp dụng trợ cấp: Khoản trợ cấp sinh hoạt phí này chỉ được xét duyệt và chi trả một lần duy nhất cho những gia đình quân nhân mất tích tính đến thời điểm đó chưa từng nhận bất kỳ khoản trợ cấp nào.
Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành
- Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm ban hành các hướng dẫn chi tiết để triển khai thi hành các nội dung của Nghị định này.
- Các Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp và tổ chức thi hành nghiêm túc các quy định ưu đãi nêu trên.
- Nghị định này bãi bỏ toàn bộ các quy định trước đây trái với nội dung quy định tại văn bản này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ |
| Số: 35-CP | Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 1960 |
QUY ĐỊNH TẠM THỜI CÁC KHOẢN ƯU ĐÃI CHO CÁC GIA ĐÌNH QUÂN NHÂN MẤT TÍCH
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ điều lệ ưu đãi gia đình quân nhân ban hành theo nghị định số 980-TTg ngày 27/7/1956 của Phủ Thủ tướng;
Căn cứ nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 6/41960.
NGHỊ ĐỊNH:
Đối với quân nhân đã tại ngũ 3 năm trở xuống mà có giấy báo mất tích ghi rõ ngày mất tích, thì gia đình được trợ cấp tối thiểu là 3 tháng sinh hoạt phí. Đối với quân nhân mất tích đã tại ngũ trên 3 năm, thì thêm nửa năm, gia đình được cấp thêm nửa tháng sinh hoạt phí cho tới mức tối đa là 6 tháng.
Đối với quân nhân biệt tin nay được xác nhận là mất tích mà không rõ ngày mất tích, thì căn cứ vào thời gian tòng quân sớm hay muộn của quân nhân đó mà trợ cấp như sau:
- Quân nhân tòng quân từ năm 1945 đến năm 1949: gia đình được trợ cấp 6 tháng sinh hoạt phí.
- Quân nhân tòng quân năm 1951: gia đình được trợ cấp 4 tháng sinh hoạt phí.
- Quân nhân tòng quân từ năm 1952 đến năm 1954: gia đình được trợ cấp 3 tháng sinh hoạt phí.
Khoản trợ cấp này chỉ xét và cấp một lần cho các gia đình quân nhân mất tích đến nay chưa lĩnh một khoản trợ cấp nào.
Điều 5. Chi tiết thi hành nghị định này do Bộ Nội vụ ấn định.
| TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |
- 1Thông tư 41-NV năm 1962 hướng dẫn chính sách đối với các gia đình Liệt sĩ, gia đình quân nhân từ trần, mất tích miền Nam, tập kết ra Bắc do Bộ Nội Vụ ban hành
- 2Nghị định 980-TTg năm 1956 về bản điều lệ ưu đãi thương binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bản điều lệ ưu đãi gia đình liệt sĩ và bản điều lệ ưu đãi gia đình liệt sĩ và bản điều lệ ưu đãi gia đình quân nhân do Thủ Tướng ban hành.
- 3Thông tư 53-NV/TT năm 1960 hướng dẫn Nghị định 35-CP về chính sách ưu đãi gia đình quân nhân mất tích do Bộ Nội Vụ ban hành
Nghị định 35-CP năm 1960 quy định tạm thời các khoản ưu đãi cho các gia đình quân nhân mất tích do Hội Đồng Chính Phủ ban hành
- Số hiệu: 35-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 09/09/1960
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 40
- Ngày hiệu lực: 24/09/1960
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
