Nghị định 33-CP/NĐ được ban hành năm 1973 bởi Hội đồng Chính phủ nhằm thiết lập các quy định nghiêm ngặt về việc tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ. Trong bối cảnh đất nước thời kỳ đó, văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ tài sản của Nhà nước cũng như tính mạng, tài sản của nhân dân thông qua việc thống nhất quản lý các chất gây nổ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với tất cả các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, đơn vị quân đội, tổ chức xã hội và mọi cá nhân trên lãnh thổ nước ta có liên quan đến hoạt động quản lý, tàng trữ, sử dụng hoặc phát hiện vật liệu nổ.
Định nghĩa về vật liệu nổ
- Vật liệu nổ theo quy định tại Nghị định bao gồm tất cả các loại thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy được sử dụng trong hoạt động sản xuất và chiến đấu.
- Quy định này áp dụng cho cả các loại vật liệu nổ được thu gom, tận dụng hoặc lấy từ bom, đạn, mìn của đối phương.
Nguyên tắc quản lý và sử dụng vật liệu nổ
- Sở hữu và quản lý nhà nước: Vật liệu nổ được xác định là loại vật tư kỹ thuật đặc biệt thuộc quyền quản lý thống nhất của Nhà nước.
- Mục đích sử dụng hợp pháp: Vật liệu nổ chỉ được phép sử dụng cho các kế hoạch sản xuất và nhiệm vụ chiến đấu của Nhà nước.
- Điều kiện tàng trữ, sử dụng: Chỉ những cơ quan, đơn vị được Nhà nước giao trách nhiệm và cấp phép mới có quyền tàng trữ, sử dụng vật liệu nổ, đồng thời phải tuân thủ nghiêm ngặt các chế độ do Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Mọi trường hợp tàng trữ, sử dụng khác ngoài quy định đều bị coi là bất hợp pháp và bị nghiêm cấm.
Quy định về việc giao nộp vật liệu nổ trái phép
- Sau khi Nghị định được công bố, tất cả những người đang nắm giữ vật liệu nổ trái phép có nghĩa vụ phải đem giao nộp ngay cho cơ quan chức năng.
- Địa điểm tiếp nhận giao nộp: Giao nộp cho cơ quan, xí nghiệp, đơn vị công tác nếu vật liệu nổ đó được lấy từ các cơ quan, xí nghiệp hoặc đơn vị quân đội. Giao nộp cho cơ quan công an từ cấp đồn, huyện, khu phố, thị xã đối với vật liệu nổ có nguồn gốc từ các nguồn khác.
- Biện pháp xử lý: Tất cả các loại vật liệu nổ tàng trữ, sử dụng trái phép khi bị phát hiện đều bị tịch thu.
Chế tài xử lý vi phạm hành chính và hình sự
- Xử phạt hành chính: Phạt tiền từ 4 đồng đến 30 đồng đối với hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ ở mức độ thông thường.
- Truy cứu trách nhiệm hình sự về tài sản: Trường hợp tàng trữ vật liệu nổ với số lượng lớn, hoặc gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân thì người vi phạm sẽ bị truy tố và xử phạt theo tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa.
- Xử lý hành vi phản cách mạng: Những trường hợp tàng trữ, sử dụng vật liệu nổ nhằm mục đích phản cách mạng sẽ bị truy tố và xử phạt nghiêm khắc theo tội phản cách mạng.
- Trách nhiệm của người quản lý: Những người được giao nhiệm vụ quản lý vật liệu nổ trong các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị nếu thiếu tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng chế độ quản lý dẫn đến mất mát vật liệu nổ sẽ bị xử lý kỷ luật. Nếu để xảy ra hậu quả nghiêm trọng, người đó có thể bị truy tố và xử phạt theo tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa.
Nghĩa vụ của công dân và chính sách khen thưởng
- Nghĩa vụ của toàn dân: Mọi công dân đều có trách nhiệm phát hiện và báo cáo ngay cho cơ quan công an hoặc Ủy ban hành chính địa phương khi biết các trường hợp tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ, hoặc khi phát hiện vật liệu nổ bị rơi vãi, bỏ hoang không có người trông coi.
- Chính sách khen thưởng: Những người có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nghĩa vụ phát hiện và báo cáo sẽ được Nhà nước khen thưởng thích đáng, bao gồm cả hình thức thưởng tiền. Chi tiết về việc thưởng tiền do Bộ Công an phối hợp với Bộ Tài chính quy định.
Trách nhiệm hướng dẫn và thi hành
- Bộ Công an: Chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc thi hành các nội dung của Nghị định này trên phạm vi toàn quốc.
- Bộ Quốc phòng: Chịu trách nhiệm hướng dẫn riêng việc thi hành các quy định của Nghị định trong phạm vi lực lượng Quân đội.
- Trách nhiệm của các cấp, các ngành: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban hành chính các cấp có trách nhiệm tổ chức, đôn đốc và bảo đảm việc thi hành nghiêm chỉnh Nghị định này trong phạm vi ngành và địa phương mình phụ trách.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 33-CP/NĐ | Hà Nội, ngày 24 tháng 2 năm 1973 |
NGHỊ ĐỊNH
VỀ VIỆC TÀNG TRỮ VÀ SỬ DỤNG VẬT LIỆU NỔ
Điều 1. Các loại thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy, dùng trong sản xuất và chiến đấu (kể cả những loại lấy từ bom, đạn, mìn của địch) đều là vật liệu nổ trong Nghị định này.
Điều 2: Vật liệu nổ là vật tư kỹ thuật đặc biệt do Nhà nước thống nhất quản lý. Vật liệu nổ chỉ được dùng cho các kế hoạch sản xuất và chiến đấu của Nhà nước và những cơ quan, đơn vị có trách nhiệm được phép của Nhà nước mới được tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ theo các chế độ của chính phủ và những cơ quan có thẩm quyền quy định.
Tất cả các trường hợp tàng trữ, sử dụng khác với quy định trên đây đều bị cấm và xử lý theo Nghị định này.
Điều 3. Sau khi Nghị định này được ban hành công bố, những người còn giữ vật liệu nổ trái phép đều phải đem nộp cho:
a)- Cơ quan, xí nghiệp, đơn vị mình công tác (nếu là vật liệu nổ lấy của cơ quan, xí nghiệp, đơn vị quân đội);
b)- Cơ quan công an từ cấp đồn, huyện, khu phố, thị xã (nếu là vật liệu nổ do nguồn khác mà có).
Những vật liệu nổ tàng trữ, sử dụng trái phép đều bị tịch thu.
Điều 4. Người nào tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ thì bị phạt tiền từ 4 đồng đến 30 đồng.
Nếu tàng trữ vật liệu nổ ở mức độ lớn, hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước, đến tính mạng và tài sản của nhân dân thì bị truy tố và xử phạt như tội xâm phạm tài sản XHCN.
Những người tàng trữ, sử dụng vật liệu nổ với mục đích phản cách mạng đều bị xử phạt theo tội phản Cách mạng.
Điều 5. Những người vì thiếu tinh thần trách nhiệm, không nghiêm chỉnh chấp hành các chế độ quản lý vật liệu nổ trong các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị mà để mất vật liệu nổ sẽ bị thi hành kỷ luật, và có thể bị truy tố và xử phạt theo tội xâm phạm tài sản XHCN nếu vì những sơ sót kể trên mà gây ra những thiệt hại nghiêm trọng.
Điều 6. Mọi người đều có nghĩa vụ phát hiện và báo cáo cơ quan công an hoặc Ủy ban hành chính địa phương biết những trường hợp tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ và những trường hợp vật liệu nổ rơi vãi không người trông coi. Những người có thành tích trong việc làm tốt nghĩa vụ trên sẽ được xét khen thưởng thích đáng, kể cả thưởng tiền. Việc thưởng tiền do Bộ công an và Bộ Tài chính quy định.
Điều 7. Ông Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn việc thi hành Nghị định này. Riêng việc thi hành Nghị định này trong Quân đội thì do ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn.
Điều 8. Các ông Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ và các ông Chủ tịch Ủy ban hành chính chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này trong ngành và địa phương mình.
Nghị định 33-CP/NĐ năm 1973 về việc tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ do Hội đồng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 33-CP/NĐ
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 24/02/1973
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 11/03/1973
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
