Nghị định 298-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 1957 nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành Sắc lệnh số 282-SL ngày 14 tháng 12 năm 1956 về chế độ báo chí. Văn bản này quy định toàn diện các khía cạnh pháp lý liên quan đến hoạt động báo chí lúc bấy giờ, bao gồm thủ tục cấp phép xuất bản, thể lệ nộp lưu chiểu bắt buộc, các hình thức kỷ luật đối với hành vi vi phạm và quy trình thực hiện quyền cải chính của tổ chức, cá nhân khi bị xâm hại danh dự trên báo chí.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với tất cả các cơ quan báo chí, tập san, chuyên san xuất bản trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bao gồm cả báo chí lưu hành công chúng và báo chí lưu hành nội bộ của các cơ quan, đoàn thể, chính đảng. Các đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp bao gồm chủ nhiệm (giám đốc), chủ bút (tổng biên tập hoặc thư ký tòa soạn), quản lý tòa báo, các biên tập viên, cộng tác viên, cùng các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Báo chí Trung ương, Ủy ban Hành chính các cấp và hệ thống Tòa án nhân dân.
Thủ tục cấp giấy phép xuất bản báo chí
Trước khi tiến hành xuất bản bất kỳ một tờ báo nào, người chủ nhiệm phải hoàn tất thủ tục xin phép và khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hồ sơ xin phép xuất bản bao gồm các tài liệu cốt lõi sau:
- Một tờ khai chi tiết ghi rõ tên tờ báo, tôn chỉ, mục đích hoạt động, thể tài, trụ sở chính thức, nhà in hợp tác và chương trình hoạt động cụ thể.
- Bản sơ lược lý lịch, giấy chứng nhận có đủ quyền công dân và xác nhận không bị truy tố trước pháp luật của chủ nhiệm, chủ bút (hoặc tổng biên tập/thư ký tòa soạn) và người quản lý tờ báo. Các giấy tờ này phải do Ủy ban Hành chính và Tòa án nhân dân cấp tỉnh/thành phố nơi cư trú xác nhận.
- Danh sách chi tiết các biên tập viên và cộng tác viên thường xuyên tham gia hoạt động của tòa soạn.
Địa điểm nộp hồ sơ được phân cấp theo địa giới hành chính: nộp tại Sở Báo chí Trung ương đối với địa bàn Hà Nội; nộp tại Ủy ban Hành chính thành phố đối với Hải Phòng, Nam Định; nộp tại Ủy ban Hành chính Khu đối với khu Hồng Quảng và Khu tự trị Thái - Mèo; và nộp tại Ủy ban Hành chính tỉnh đối với các tỉnh thành khác. Thẩm quyền tối cao cấp giấy phép xuất bản báo chí thuộc về Thủ tướng Phủ.
Nghị định cũng quy định nghiêm ngặt về hiệu lực của giấy phép và các thay đổi trong quá trình hoạt động:
- Trong vòng hai tháng kể từ ngày được cấp phép, nếu tờ báo không xuất bản mà không có lý do chính đáng thì giấy phép sẽ mất hiệu lực. Trường hợp tự ý đình bản quá ba tháng, nếu muốn tiếp tục xuất bản phải làm lại thủ tục xin phép từ đầu.
- Nghiêm cấm mọi hoạt động quảng cáo, cổ động, đặt đại lý, thu tiền mua báo trước khi được cấp giấy phép chính thức.
- Mọi thay đổi về tên báo, tôn chỉ mục đích, kỳ hạn phát hành, hoặc thay đổi nhân sự chịu trách nhiệm chính đều bắt buộc phải làm lại thủ tục xin phép và giải trình rõ lý do.
- Việc xuất bản phụ san có hình thức, nội dung khác biệt với tờ báo chính phải được xem xét như một tờ báo mới và phải xin phép riêng biệt.
- Các thay đổi nhỏ hơn như chuyển trụ sở, đổi nhà in, thay đổi nhân sự biên tập thông thường, hoặc tạm đình bản dưới ba tháng phải thông báo bằng văn bản cho Sở Báo chí Trung ương và chính quyền địa phương trước ít nhất bảy ngày.
Thể lệ nộp lưu chiểu bắt buộc trước khi phát hành
Để đảm bảo công tác quản lý nội dung, Nghị định quy định tất cả báo chí (trừ báo chí nội bộ của quân đội và công an) đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp lưu chiểu trước khi phát hành ra công chúng với thời hạn nghiêm ngặt:
- Báo ra hàng ngày phải nộp lưu chiểu trước khi phát hành ít nhất 3 tiếng đồng hồ.
- Báo không ra hàng ngày phải nộp trước ít nhất 6 tiếng đồng hồ.
- Các loại tạp chí, tập san, chuyên san phải nộp trước ít nhất 12 tiếng đồng hồ.
Số lượng và địa chỉ nộp lưu chiểu được quy định cụ thể: nộp 5 bản cho Sở Báo chí Trung ương; nộp cho Ủy ban Hành chính và Tòa án nhân dân nơi xuất bản mỗi cơ quan 2 bản. Đối với báo chí nội bộ của các cơ quan, đoàn thể không bán ra công chúng thì chỉ cần nộp 3 bản cho Sở Báo chí Trung ương. Trên các bản lưu chiểu phải ghi rõ dòng chữ "báo lưu chiểu", số lượng phát hành thực tế, ngày giờ nộp, có đóng dấu của tòa báo và chữ ký trực tiếp của người quản lý hoặc chủ nhiệm. Mọi trường hợp tái bản, dù không thay đổi nội dung, vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nộp lưu chiểu như lần in đầu tiên.
Chế độ kỷ luật và các hình thức xử lý vi phạm
Nghị định thiết lập một hệ thống chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm pháp luật về báo chí, phân cấp thẩm quyền xử lý rõ ràng:
- Vi phạm quy định về cấp phép và hoạt động trước khi có phép (Điều 2 và Điều 6) sẽ bị xử phạt theo Sắc lệnh số 282-SL.
- Vi phạm về thời hạn xuất bản, tự ý thay đổi nội dung, tôn chỉ hoặc xuất bản phụ san trái phép (Điều 5, 7, 8) sẽ bị cảnh cáo hoặc xử phạt hành chính tùy mức độ.
- Vi phạm quy định về thông báo thay đổi thông tin tòa soạn hoặc chậm trễ, trốn tránh nộp lưu chiểu (Điều 9, 10, 11, 12, 13) cũng chịu các hình thức xử phạt tương ứng theo Sắc lệnh 282-SL.
- Hành vi in lại toàn bộ hoặc trích đăng nội dung từ các ấn phẩm đã có lệnh tịch thu, thu hồi sẽ bị xử lý nghiêm khắc.
Về hình thức cảnh cáo, Nghị định chia làm các cấp độ từ thấp đến cao: cảnh cáo bằng văn bản gửi riêng, tuyên bố quyết định cảnh cáo trước hội nghị báo chí, hoặc công bố quyết định cảnh cáo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Quyền cảnh cáo thuộc về Sở Báo chí Trung ương (đối với báo chí tại Hà Nội) và Ủy ban Hành chính địa phương (đối với báo chí địa phương). Riêng các biện pháp mạnh mẽ như tịch thu, thu hồi số báo vi phạm, đình bản tạm thời hoặc đình bản vĩnh viễn một tờ báo đều thuộc thẩm quyền quyết định duy nhất của Thủ tướng Phủ.
Quy định chi tiết về quyền cải chính và giải quyết khiếu nại
Đây là một trong những nội dung được quy định rất chi tiết nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân trước các thông tin sai lệch:
- Khi một tờ báo đăng tải thông tin vu khống, sai sự thật gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào, đối tượng bị hại có quyền yêu cầu tòa soạn phải đăng bài cải chính. Đồng thời, người bị hại vẫn giữ nguyên quyền khởi kiện ra tòa án để yêu cầu xử lý hình sự và đòi bồi thường thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần.
- Yêu cầu kỹ thuật đối với bài cải chính: Phải được đăng nguyên văn, không được kèm theo lời giải thích, bình luận hay biện hộ của tòa soạn. Bài cải chính phải được đặt tại đúng vị trí, sử dụng cùng cỡ chữ, kiểu chữ như bài viết vi phạm trước đó. Chiều dài bài cải chính không được vượt quá gấp đôi bài viết vi phạm nhưng tối thiểu phải đạt 50 dòng cột báo. Số lượng phát hành của kỳ báo có bài cải chính không được thấp hơn kỳ báo đã đăng thông tin sai lệch.
- Thời hạn đăng cải chính: Đối với báo hàng ngày, chậm nhất là 3 ngày sau khi nhận được yêu cầu. Đối với báo định kỳ khác, phải đăng ngay trong số tiếp theo nếu nhận được yêu cầu trước khi báo lên khuôn 1 ngày. Việc đăng bài cải chính hoàn toàn không được thu phí của đương sự.
- Trường hợp tòa soạn tự viết bài cải chính theo yêu cầu của đương sự, bài viết đó vẫn phải tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật nêu trên. Nếu sau khi cải chính, tòa soạn vẫn tiếp tục đưa ra các bình luận, nhận xét trái ngược hoặc không đồng nhất, người bị hại có quyền tiếp tục yêu cầu cải chính lần tiếp theo.
- Tòa soạn chỉ có quyền từ chối đăng bài cải chính nếu nội dung bài cải chính đó vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm đến danh dự của người viết báo, nhưng phải lập tức thông báo lý do bằng văn bản cho đương sự.
Trong trường hợp tòa soạn từ chối, trì hoãn hoặc thực hiện cải chính không đúng quy định, đương sự có quyền khiếu nại lên Sở Báo chí Trung ương, Ủy ban Hành chính địa phương hoặc khởi kiện trực tiếp ra Tòa án nhân dân cấp tỉnh/thành phố. Tòa án có trách nhiệm xét xử theo thủ tục rút gọn (cấp thẩm) trong thời hạn tối đa 3 ngày. Nếu tòa án phán quyết phải cải chính, tòa soạn bắt buộc phải thực hiện ngay trong số báo gần nhất, kể cả trong trường hợp tòa soạn đang tiến hành kháng án lên tòa án phúc thẩm (tòa án phúc thẩm phải giải quyết vụ việc trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận đơn kháng án).
Điều khoản thi hành và chuyển tiếp
Nghị định quy định điều khoản chuyển tiếp đối với các cơ quan báo chí đã xuất bản trước ngày ban hành Sắc lệnh số 282-SL (ngày 14 tháng 12 năm 1956) mà chưa hoàn thành thủ tục khai báo hợp lệ thì phải hoàn tất việc khai báo trong thời hạn tối đa là hai tháng kể từ ngày Nghị định này được công bố. Tất cả các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Ủy ban Hành chính các cấp và Giám đốc Sở Báo chí Trung ương chịu trách nhiệm giám sát và thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản của Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 298-TTg | Hà Nội, ngày 09 tháng 07 năm 1957 |
QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH LUẬT SỐ 100-SL/L002 NGÀY 20-05-1957 VỀ CHẾ ĐỘ BÁO CHÍ.
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật số 100-SL/Lt002 ngày 20 tháng 05 năm 1957 và Sắc lệnh số 282-SL ngày 14 tháng 12 năm 1956 về chế độ báo chí;
Chiếu Sắc lệnh số 18-SL ngày 31 tháng 1 năm 1956 đặt thể lệ lưu chiểu văn hóa phẩm,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Nghị định này quy định chi tiết thi hành:
- Việc cấp giấy phép xuất bản báo chí.
- Việc nộp lưu chiểu trước khi phát hành báo chí.
- Việc áp dụng kỷ thuật.
1) Một tờ khai ghi rõ: tên, tôn chỉ, mục đích, trụ sở chính thức, nhà in và chương trình hoạt động của tờ báo.
2) Một bản sơ lược lý lịch, một giấy chứng nhận có chủ quyền công dân và hiện không bị truy tố trước pháp luật của mỗi người: chủ nhiệm, chủ bút (hoặc tổng biên tập, hoặc thư ký tòa soạn) và quản lý của tờ báo, bản sơ lược lý lịch do Ủy ban Hành chính thành phố hoặc tỉnh nơi những người này cư trú cấp Giấy chứng nhận có đủ quyền công dân và không bị truy tố trước pháp luật do tòa án nhân dân thành phố hoặc tòa án nhân dân tỉnh nơi cư trú cấp. Riêng đối với Khu Tự trị Thái mèo và Khu Hồng quảng thì các giấy tờ trên do Ủy ban Hành chính hay Tòa án nhân dân Khu cấp.
3) Một danh sách biên tập viên, công tác viên thường xuyên giúp việc tờ báo.
Sở Báo chí Trung ương sẽ ấn định những mẫu giấy tờ và hướng dẫn việc khai báo.
Điều 3. Đơn cùng các giấy tờ nói trên nộp tại các cơ quan sau đây:
- Ở Hà nội: tại Sở Báo chí Trung ương.
- Ở Hải phòng, Nam định: tại Ủy ban Hành chính thành phố.
- Ở khu Hồng quảng và Khu Tự trị Thái mèo: tại Ủy ban Hành chính Khu.
- Ở các tỉnh: tại Ủy ban Hành chính tỉnh.
Sau khi nhận được đơn xin phép xuất bản báo chí và các giấy tờ khai báo hợp thức, cơ quan nhận đơn sẽ cấp cho người nộp đơn một giấy biên nhận.
Báo nào tự ý đính bản một thời gian quá ba tháng mà sau này muốn tục bản thì phải xin phép và khai báo lại.
1) Thay đổi tên báo.
2) Thay đổi nội dung, thể tài căn bản khác với tôn chỉ, mục đích đã ghi trong giấy phép cho xuất bản báo.
3) Thay đổi kỳ hạn phát hành như tờ báo hàng ngày chuyển sang hàng tuần, hàng tháng hoặc ngược lại.
4) Thay đổi một hoặc nhiều người chịu trách nhiệm chính của tờ báo.
Báo ra hàng ngày phải nộp trước ba tiếng đồng hồ; báo không ra hàng ngày trước sáu tiếng đồng hồ; các loại tạp chí, tập san, chuyên san trước mười hai tiếng đồng hồ.
Điều 11. Báo lưu chiểu nộp cho:
- Sở Báo chí Trung ương: năm bản,
- Ủy ban Hành chính và Tòa án nhân dân thành phố hoặc tỉnh nơi nào xuất bản, mỗi cơ quan hai bản.
Ở khu Hồng quảng và Khu tự trị Thái mèo nộp cho Ủy ban Hành chính và Tòa án nhân dân Khu, mỗi cơ quan hai bản.
Riêng các báo chí, tập san, chuyên san của các cơ quan, đoàn thể, các chính đảng chỉ lưu hành trong nội bộ, không lưu hành ngoài công chúng, chỉ phải nộp lưu chiểu mỗi số ba bản cho Sở Báo chí Trung ương.
Đối với các báo chí không xuất bản tại Hà nội, số báo nộp lưu chiểu cho Sở Báo chí Trung ương sẽ gửi qua cơ quan bưu điện cùng một lúc với khi nộp lưu chiểu cho Ủy ban Hành chính và Tòa án nhân dân địa phương.
Báo chí nào vi phạm điều 5, điều 7, hoặc điều 8 Nghị định này, sẽ tùy lỗi nặng hay nhẹ, bị cảnh cáo hoặc trừng phạt theo đoạn 1 điều 13 Sắc lệnh số 282-SL ngày 14 tháng 12 năm 1956.
Báo chí nào vi phạm điều 9, điều 10, điều 11, điều 12, điều 13 hoặc điều 24 Nghị định này sẽ bị trừng phạt theo đoạn 4, điều 13 Sắc lệnh số 282-SL ngày 14 tháng 12 năm 1956.
Báo chí nào in lại toàn bộ hoặc trích đăng những bài báo đã đăng trên những báo chí đã có lệnh tịch thu hay thu hồi, sẽ bị trừng phạt theo đọan 2 điều 13 Sắc lệnh số 282-SL, ngày 14 tháng 12 năm 1956.
Điều 17. Đối với các báo chí xuất bản ở Hà nội thì quyền cảnh cáo ủy cho Sở Báo chí Trung ương.
Đối với các báo chí xuất bản ở các địa phương thì quyền cảnh cáo ủy cho Ủy ban Hành chính địa phương: Ủy ban Hành chính tỉnh, Ủy ban hành chính thành phố, Ủy ban Hành chính Khu Tự trị Thái mèo hoặc Ủy ban Hành chính Khu Hồng quảng, tùy theo nơi xuất bản của tờ báo.
Bài cải chính không được dài quá gấp đôi bài báo đã xúc phạm, nhưng ít nhất cũng được viết dài tới năm mươi dòng trong cột báo.
Số lượng phát hành của số báo đăng bài cải chính không được ít hơn kỳ đã có bài vu khống, xúc phạm tới danh dự.
Đối với báo xuất bản hàng ngày, chậm nhất ba ngày sau khi nhận được phải đăng bài cải chính. Đối với các báo chí khác không xuất bản hàng ngày, nếu nhận được bài cải chính đến một ngày trước khi báo lên khuôn, thì phải đăng ngay trong số báo sắp ra đó.
Những bài cải chính của tổ chức hay cá nhân gửi tới đăng đều không phải trả tiền cho tờ báo.
Những điều quy định ở
Đối với các việc tòa soạn không đăng bài cải chính, đăng chậm, đăng không đúng thể thức quy định ở các điều 20, 21 và 22 trên đây, đương sự có thể khiếu nại tại các cơ quan có thẩm quyền xét định nói ở
Điều 25. Những điều khoản ban hành trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
| KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
- 1Sắc lệnh số 282/SL về việc quy định chế độ báo chí do Chủ tịch nước ban hành
- 2Sắc lệnh số 282/SL về chế độ báo chí do Quốc hội ban hành
- 3Luật Báo chí 1989
- 4Thông tư 83-VHTT/VP-1978 về viêc nộp lưu chiểu văn hóa phẩm để hướng dẫn thi hành các luật lệ về lưu chiểu văn hóa phẩm do Bộ Văn hóa thông tin ban hành
- 1Sắc lệnh số 282/SL về việc quy định chế độ báo chí do Chủ tịch nước ban hành
- 2Sắc lệnh số 282/SL về chế độ báo chí do Quốc hội ban hành
- 3Luật Báo chí 1989
- 4Thông tư 83-VHTT/VP-1978 về viêc nộp lưu chiểu văn hóa phẩm để hướng dẫn thi hành các luật lệ về lưu chiểu văn hóa phẩm do Bộ Văn hóa thông tin ban hành
Nghị định 298-TTg năm 1957 hướng dẫn luật chế độ báo chí do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- Số hiệu: 298-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 09/07/1957
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phan Kế Toại
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 29
- Ngày hiệu lực: 24/07/1957
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
