Nghị định 293-CP được Hội đồng Chính phủ ban hành năm 1981 nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho hệ thống chính sách toàn diện về bảo vệ quyền lợi, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và phát triển thể chất, tinh thần cho trẻ em Việt Nam trong giai đoạn đầu xây dựng đất nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với toàn bộ trẻ em Việt Nam, đặc biệt chú trọng đến các nhóm đối tượng ưu tiên như trẻ em là con liệt sĩ, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa và trẻ em tàn tật. Đồng thời, văn bản quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức xã hội, hợp tác xã, nhà trường cùng toàn thể gia đình trong việc thực hiện các quyền của trẻ em.
Nội dung cốt lõi của Nghị định 293-CP năm 1981
1. Chế độ cung cấp nhu yếu phẩm và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em
- Bảo đảm tiêu chuẩn dinh dưỡng và mặc: Trẻ em được hưởng đầy đủ các tiêu chuẩn về lương thực, thực phẩm, vải mặc theo từng lứa tuổi do Nhà nước quy định. Bộ Lương thực, Bộ Công nghiệp thực phẩm và Bộ Nội thương chịu trách nhiệm bảo đảm nguồn cung này. Trong điều kiện khó khăn, trẻ em là đối tượng ưu tiên hàng đầu. Ngành thương nghiệp phải bảo đảm cung cấp đủ sữa chất lượng, đúng hạn cho trẻ em có mẹ bị thiếu sữa hoặc mất sữa.
- Trách nhiệm của Bộ Y tế: Thực hiện khám sức khỏe định kỳ và lập sổ theo dõi sức khỏe cho toàn bộ trẻ em; lên kế hoạch sản xuất thuốc chuyên biệt cho từng lứa tuổi; tăng tỷ lệ giường bệnh nhi khoa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế khoa nhi. Đồng thời, phối hợp xây dựng chế độ phòng, khám và chữa bệnh cho những người tiếp xúc hàng ngày với trẻ em.
- Phòng ngừa dịch bệnh: Nghiêm cấm các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã phân công người mắc bệnh truyền nhiễm làm việc tại các vị trí tiếp xúc trực tiếp với trẻ em.
2. Bảo đảm môi trường sống an toàn và lành mạnh
- Khoảng cách an toàn độc hại: Nghiêm cấm đặt các kho chứa thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, chất độc hại gần nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học, cơ sở y tế, văn hóa của trẻ em. Ngược lại, không được xây dựng các cơ sở phục vụ trẻ em gần các khu vực kho tàng độc hại này.
- Phòng chống tệ nạn: Nghiêm cấm trẻ em uống rượu, bia, hút thuốc lá và sử dụng ma túy. Người lớn có trách nhiệm giáo dục, ngăn chặn và tuyệt đối không được bán các chất gây hại này cho trẻ em.
- Bảo vệ cơ sở vật chất của trẻ em: Không được sử dụng nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học vào mục đích khác. Trường hợp đặc biệt vì lợi ích chung, phải được sự cho phép của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và phải bố trí cơ sở thay thế tương xứng.
3. Phát triển giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao
- Mạng lưới giáo dục: Ủy ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em Trung ương, Bộ Giáo dục và UBND các cấp phải tăng cường mạng lưới nhà trẻ, mẫu giáo, trường phổ thông cơ sở đạt chuẩn để thu nhận và giáo dục trẻ em đúng độ tuổi. Bộ Giáo dục có trách nhiệm củng cố, phát triển các trường năng khiếu cho trẻ em.
- Phát triển thể chất: Tổng cục Thể dục thể thao phối hợp nghiên cứu, hướng dẫn phương pháp luyện tập sức khỏe phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ.
- Hoạt động văn hóa, nghệ thuật: Bộ Văn hóa và Thông tin cùng Tổng cục Thể dục thể thao phối hợp xây dựng kế hoạch sáng tác, xuất bản sách báo, tranh ảnh, sản xuất phim, kịch, xiếc, dụng cụ thể thao, đồ chơi thẩm mỹ cho trẻ em. Đồng thời, củng cố hệ thống thư viện, câu lạc bộ, rạp hát dành riêng cho trẻ em hoặc bố trí khung giờ sử dụng thích đáng tại các công trình công cộng chung.
- Kiểm soát văn hóa phẩm độc hại: Nghiêm cấm sản xuất, nhập khẩu, tàng trữ, lưu hành văn hóa phẩm có hại cho việc giáo dục trẻ em. Mọi công dân có quyền tịch thu và nộp các ấn phẩm này cho cơ quan văn hóa cấp huyện trở lên.
- Quản lý nội dung biểu diễn: Bộ Văn hóa và Thông tin quy định danh mục phim, tiết mục sân khấu không dành cho trẻ em. Các rạp chiếu phim, nhà hát và đài truyền hình phải thông báo trước và kiểm soát chặt chẽ, không cho trẻ em vào xem các nội dung này.
4. Chính sách ưu đãi đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
- Trẻ em là con liệt sĩ và trẻ mồ côi: Bộ Thương binh và Xã hội phối hợp mở rộng mạng lưới nuôi dạy để thu nhận toàn bộ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa. Trẻ em là con liệt sĩ được ưu tiên nhận vào các nhà trẻ, lớp mẫu giáo và trường học.
- Trẻ em tàn tật: Bộ Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế tiến hành điều tra, lập kế hoạch điều trị, phục hồi chức năng lao động, dạy văn hóa và dạy nghề phù hợp cho trẻ em tàn tật.
5. Chính sách miễn giảm giá dịch vụ và hàng hóa
- Giảm giá hàng hóa thiết yếu: Ủy ban Vật giá Nhà nước cùng Bộ Nội thương trình Chính phủ phê duyệt danh mục các mặt hàng giảm giá dành riêng cho trẻ em, ưu tiên hàng đầu là học phẩm và thuốc chữa bệnh.
- Giảm giá vé dịch vụ công cộng: Trẻ em từ 7 tuổi đến 15 tuổi được giảm 50% giá vé khi sử dụng các phương tiện giao thông công cộng và khi vào các địa điểm vui chơi, giải trí công cộng.
6. Trách nhiệm của chính quyền, cơ sở sản xuất và gia đình
- Chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước: Các ngành, địa phương phải đưa các chỉ tiêu bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em vào kế hoạch Nhà nước 5 năm và hàng năm. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Ủy ban kế hoạch các cấp chịu trách nhiệm xét duyệt, kiểm tra việc thực hiện.
- Giám sát của Hội đồng nhân dân: HĐND các cấp thành lập "Ban bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" để nghiên cứu, giám sát việc thực thi chính sách pháp luật về trẻ em tại địa phương.
- Đóng góp của cơ sở sản xuất: Các xí nghiệp, hợp tác xã phải trích một tỷ lệ thích đáng từ quỹ phúc lợi hoặc quỹ công ích hàng năm để chi cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Vai trò của gia đình: Khuyến khích thành lập các hội cha mẹ học sinh để phối hợp với nhà trường, Đoàn Thanh niên, Ủy ban thiếu niên nhi đồng quản lý trẻ em. Các Bộ ngành liên quan có trách nhiệm bồi dưỡng kiến thức nuôi dạy con cho các bậc cha mẹ.
7. Quyền kháng nghị của các tổ chức xã hội khi trẻ em bị xâm phạm
- Xử lý kháng nghị: Khi Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam kháng nghị về hành vi, quyết định xâm phạm quyền lợi trẻ em, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải kịp thời xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc hình sự.
- Thời hạn giải quyết: Cơ quan bị kháng nghị phải trả lời bằng văn bản trong vòng 7 ngày và giải quyết dứt điểm trong vòng 1 tháng. Nếu không đồng ý với kháng nghị, phải trả lời nêu rõ lý do trong vòng 7 ngày. Tổ chức kháng nghị có quyền khiếu nại lên cấp trên trực tiếp của cơ quan vi phạm; cấp trên phải đưa ra hướng giải quyết trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận khiếu nại.
8. Quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm
- Các hình thức xử phạt hành chính: Bao gồm cảnh cáo, phạt tiền từ 1 đồng đến 50 đồng, và phạt lao động công ích từ 1 ngày đến 3 ngày. Đối với cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước vi phạm, ngoài phạt hành chính còn bị xử lý kỷ luật theo quy định hiện hành.
- Thẩm quyền xử phạt:
- UBND cấp xã, phường: Có quyền cảnh cáo, phạt tiền từ 1 đến 5 đồng, phạt lao động công ích 1 ngày.
- UBND cấp huyện, quận: Có thẩm quyền áp dụng tất cả các hình thức xử phạt hành chính nêu trên.
- Thời hạn khiếu nại quyết định xử phạt: Người bị phạt có quyền khiếu nại trong vòng 5 ngày đối với quyết định của UBND cấp xã và 7 ngày đối với quyết định của UBND cấp huyện. UBND cấp trên phải giải quyết khiếu nại trong vòng 7 ngày. Quyết định giải quyết của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quyết định cuối cùng.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 293-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các điều khoản quy định tại Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 293-CP | Hà Nội, ngày 04 tháng 7 năm 1981 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ do Quốc hội thông qua ngày 14-7-1960;
Căn cứ điều 27 của Pháp lệnh ngày 14-11-1979 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp chế của Chính phủ,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 2. Trong việc chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em, Bộ Y tế có trách nhiệm:
1. Từng bước thực hiện việc khám sức khoẻ định kỳ cho tất cả trẻ em và lập sổ theo dõi sức khoẻ trẻ em.
2. Có kế hoạch tổ chức sản xuất các thứ thuốc cần thiết cho từng lứa tuổi trẻ em; từng bước tăng tỷ lệ giường bệnh dành cho trẻ em, bảo đảm số lượng và chất lượng cán bộ, nhân viên làm việc ở các khoa nhi.
3. Cùng với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em và Bộ Giáo dục xây dựng, hoàn chỉnh và tổ chức thực hiện tốt các chế độ phòng bệnh, khám bệnh và chữa bệnh cho những người có nhiệm vụ hằng ngày tiếp xúc với trẻ em.
Không được xây dựng các nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học, sơ cở y tế và văn hoá phục vụ trẻ em gần những nơi có những kho tàng nói trên.
Nếu vì lợi ích chung mà cần phải dùng những cơ sở nói trên vào mục đích khác, thì phải được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương cho phép, và phải bố trí những cơ sở tương xứng để thay thế.
a) Tổ chức việc sáng tác, xuất bản, phát hành các loại sách báo tranh ảnh, xây dựng các loại phim, các tiết mục múa, nhạc, kịch, xiếc v.v... thích hợp với trẻ em;
b) Tổ chức việc sản xuất các dụng cụ thể dục thể thao, các dụng cụ giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em;
c) Củng cố và xây dựng mới các thư viện, câu lạc bộ, nhà văn hoá, rạp hát, cơ sở luyện tập v.v... dành cho trẻ em. (Nếu chưa có điều kiện xây dựng những công trình riêng cho trẻ em, thì phải quy định thích đáng thời gian dành cho trẻ em trong kế hoạch sử dụng các công trình chung).
Khi phát hiện những văn hoá phẩm trên đây, bất cứ công dân nào cũng có quyền tịch thu và nộp cho cơ quan văn hoá sở tại từ cấp huyện, quận hoặc cấp tương đương trở lên.
Khi chiếu những phim và biểu diễn những tiết mục đó, các rạp phải thông báo trước, nhân viên kiểm soát vé và giữ trật tự ở những nơi này không được cho trẻ em vào xem.
Khi chiếu trên vô tuyến truyền hình những phim, những tiết mục sân khấu không nên để trẻ em xem, các đài truyền hình phải thông báo trước.
ĐỐI VỚI TRẺ EM LÀ CON LIỆT SĨ, TRẺ EM MỒ CÔI VÀ TRẺ EM TÀN TẬT
Trẻ em là con liệt sĩ được ưu tiên nhận vào các nhà trẻ, các lớp mẫu giáo và các trường học.
VỀ TRÁCH NHIỆM CHUNG CỦA CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP VÀ CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm giúp Hội đồng Chính phủ, Uỷ ban kế hoạch các cấp có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp xét duyệt và kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đó.
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm giúp đỡ các hội cha mẹ học sinh.
Việc xử lý bằng biện pháp hành chính sẽ theo những quy định trong các
Việc xử lý bằng biện pháp hình sự sẽ theo những quy định của luật hình sự.
Nếu không đồng ý với kháng nghị, thì trong thời hạn 7 ngày, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội nói trên phải trả lời và nêu rõ lý do trong trường hợp này. Các đoàn thể đã kháng nghị có quyền khiếu nại lên cấp trên của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội đã vi phạm. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày được khiếu nại, tổ chức cấp trên của cơ quan hoặc tổ chức bị kháng nghị phải thông báo cho đoàn thể đã kháng nghị về cách giải quyết của mình.
Điều 24. Các hình thức phạt hành chính theo Điều 26 của Pháp lệnh ngày 14-11-1979 bao gồm:
- Cảnh cáo.
- Phạt tiền từ 1 đồng đến 50 đồng.
- Phạt lao động công ích từ 1 ngày đến 3 ngày.
Nếu trong khi thừa hành nhiệm vụ, cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước vi phạm Pháp lệnh ngày 14-11-1979 thì ngoài những hình thức phạt hành chính trên đây, còn có thể bị thi hành kỷ luật theo điều lệ về kỷ luật do Hội đồng Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 195/CP ngày 31-12-1964.
Uỷ ban nhân dân huyện, quận hoặc cấp tương đương có quyền áp dụng tất cả các hình thức phạt hành chính quy định ở điểm 24 trên đây.
- 5 ngày đối với quyết định của Uỷ ban nhân dân xã, phường.
- 7 ngày đối với quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, hoặc cấp tương đương.
Trong thời hạn 7 ngày sau khi nhận được khiếu nại, uỷ ban nhân dân cấp trên phải có quyết định chính thức giải quyết việc khiếu nại. Quyết định xử lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu là quyết định cuối cùng.
| Tố Hữu (Đã ký) |
- 1Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991
- 2Chỉ thị 298-TTg năm 1996 về kiểm điểm đánh giá 5 năm thi hành luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Nghị định 374-HĐBT Hướng dẫn Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4Chỉ thị 102/CT năm 1989 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5Chỉ thị 38-CT/TW năm 1994 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Ban Bí thư ban hành
- 1Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ 1960
- 2Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979
- 3Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991
- 4Chỉ thị 298-TTg năm 1996 về kiểm điểm đánh giá 5 năm thi hành luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5Chỉ thị 102/CT năm 1989 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 6Chỉ thị 38-CT/TW năm 1994 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Ban Bí thư ban hành
Nghị định 293-CP năm 1981 thi hành Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Hội đồng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 293-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 04/07/1981
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Tố Hữu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 12
- Ngày hiệu lực: 19/07/1981
- Ngày hết hiệu lực: 14/11/1991
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
