Nghị định 25-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1983 nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh thuế nông nghiệp. Văn bản này do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu ký ban hành, thiết lập các quy tắc cụ thể về đối tượng nộp thuế, đất chịu thuế, phân hạng đất, thuế suất, miễn giảm thuế và công tác quản lý thu nộp thuế nông nghiệp trên phạm vi cả nước.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Nghị định xác định rõ các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp và các loại đất thuộc diện chịu thuế hoặc miễn thuế:
- Đối tượng nộp thuế: Bao gồm các hợp tác xã nông nghiệp, tập đoàn sản xuất nông nghiệp; các hộ nông dân sản xuất riêng lẻ hoặc tham gia tổ chức đoàn kết sản xuất; các xí nghiệp (trừ nông trường, trạm trại quốc doanh), cơ quan, đoàn thể, đơn vị vũ trang sử dụng đất nông nghiệp; các hội tư nhân, tổ chức tôn giáo (nhà thờ, chùa, đền...); và các cá nhân (xã viên, công nhân, viên chức, cán bộ chiến sĩ) sử dụng đất làm kinh tế phụ gia đình.
- Đất chịu thuế nông nghiệp: Đất nông nghiệp (gồm cả mặt nước nhỏ, đồng cỏ, bãi bồi) và các loại đất khác (đất lâm nghiệp, chuyên dùng, đất ở...) nếu được đưa vào sử dụng sản xuất nông nghiệp.
- Đất không chịu thuế nông nghiệp: Đất xây dựng công trình công cộng (trường học, trạm xá, nhà văn hóa, trụ sở xã, kho tàng, sân phơi, chuồng trại tập thể); đất ở thực tế; đất do nông trường, trạm trại quốc doanh quản lý đúng thiết kế; đất công trình giao thông, thủy lợi lớn và vừa; đất khai hoang, phục hóa trong thời hạn miễn thuế; đất vùng rẻo cao, vùng mới định canh định cư; nghĩa trang, sân vận động, bể bơi cố định; và đất chưa giao sử dụng.
Nội dung cốt lõi của Nghị định 25-HĐBT
- Nguyên tắc phân hạng đất tính thuế
- Lấy độ phì và điều kiện tưới tiêu làm yếu tố chính, thể hiện qua năng suất trung bình đạt được hàng năm trong điều kiện canh tác bình thường (thời tiết bình thường, kỹ thuật phổ biến, tham khảo sản lượng 3 năm 1980 - 1982 loại trừ mất mùa).
- Chỉ tính năng suất của tối đa 2 vụ chính, không tính vụ phụ tranh thủ.
- Đất có năng suất ngang nhau nhưng độ phì và tưới tiêu khác nhau thì xếp hạng khác nhau. Ngược lại, đất có độ phì và tưới tiêu giống nhau nhưng năng suất khác nhau do trình độ thâm canh thì xếp cùng hạng.
- Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh tạm thời xếp hạng đất năm 1983. Việc xếp hạng chính thức ổn định trong 5 năm do Hội đồng Bộ trưởng quyết định sau khi các Bộ ngành liên quan kiểm tra.
- Quy định đối với đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm
- Đất trồng cây hàng năm: Bất kể trồng lúa hay các loại cây hàng năm khác (đay, mía, lạc, đỗ, thuốc lá, rau, hoa...) đều chịu thuế như đất trồng lúa và phân hạng theo định suất bằng lúa. Đất trồng dược liệu đặc biệt có quy định riêng.
- Đất vườn và cây lâu năm: Khi định sản lượng phải phân biệt theo độ tuổi của cây (mới thu hoạch, thu hoạch ổn định, thu hoạch giảm dần). Giá trị sản lượng tính theo thời giá trung bình tại địa phương. Đối với vườn tạp, tính theo thu nhập trung bình trên đơn vị diện tích của đa số hộ tại địa phương.
- Thuế suất đối với cây ăn quả
Thuế suất áp dụng cho vườn cây ăn quả của hộ gia đình (không phân biệt hộ cá thể hay xã viên, công nhân viên chức) dựa trên diện tích và loại cây:
- Cây ăn quả thông thường: Diện tích đến 1000 m2 chịu thuế suất 20%; đến 5000 m2 chịu 24%; trên 5000 m2 chịu 28%.
- Cây ăn quả đặc sản, giá trị cao: Diện tích đến 1000 m2 chịu thuế suất 22%; đến 5000 m2 chịu 26%; trên 5000 m2 chịu 30%.
- Vườn cây ăn quả tập thể: Chịu thuế suất 18% đối với cây thông thường và 20% đối với cây đặc sản. Riêng vườn cây tập thể do các tổ phụ lão chăm sóc chịu thuế suất ưu đãi 10% không phân biệt quy mô và loại cây.
- Chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp
- Do thiên tai, địch họa: Căn cứ vào tỷ lệ thiệt hại sản lượng cả năm so với năng suất khởi điểm để giảm thuế: thiệt hại đến 20% không giảm; đến 30% giảm 10% thuế; đến 40% giảm 20%; đến 50% giảm 30%; đến 60% giảm 50%; đến 70% giảm 60%; trên 70% được miễn thuế hoàn toàn. Đất hạng 7 lấy mốc năng suất khởi điểm là 10 kg/100 m2. Không áp dụng miễn giảm cho đất vườn và đất trồng cây lâu năm trong trường hợp này.
- Do thay đổi quy hoạch, tổ chức sản xuất: Nếu thu nhập giảm sút mạnh sau khi thay đổi phương án kinh tế - kỹ thuật được duyệt, UBND cấp huyện xem xét và đề nghị UBND cấp tỉnh quyết định.
- Do hoàn cảnh khó khăn: Miễn, giảm thuế cho các hộ trước đây được miễn nay phải nộp, gia đình thương binh liệt sĩ gặp khó khăn (già yếu, thiếu sức lao động, thu nhập thấp, đông nhân khẩu, tai nạn bất ngờ...) có xác nhận của UBND cấp xã.
- Thẩm quyền quyết định: UBND cấp tỉnh được quyết định miễn giảm trong phạm vi không quá 5% tổng số thuế ghi thu cả năm của địa phương. Vượt quá mức này phải trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định.
- Thời hạn, phương thức thu nộp và sổ thuế nông nghiệp
- Năm thuế: Tính từ ngày 1 tháng 3 năm này đến hết tháng 2 năm sau. Thuế tính cả năm nhưng thu làm 2 lần (đối với nơi có 2 vụ chính) hoặc 1 lần (nơi có 1 vụ chính). Thời hạn thu xong chậm nhất là 1 tháng sau khi kết thúc vụ thu hoạch.
- Sổ thuế nông nghiệp: Lập hàng năm theo đơn vị hành chính cấp xã. Đất ở xã nào thì đăng ký, tính và nộp thuế tại xã đó. Trường hợp xâm canh (sử dụng đất ở xã khác) phải khai báo tại nơi cư trú để tính phụ thu (nếu đạt mức phụ thu) và nộp phụ thu tại nơi cư trú.
- Đứng tên sổ thuế: Là tổ chức hoặc cá nhân được giao đất. Nếu tổ chức giao lại đất cho cá nhân làm kinh tế phụ hoặc tự túc thì tổ chức có trách nhiệm thu hộ để nộp cho chính quyền.
- Hình thức nộp thuế: Thu chủ yếu bằng hiện vật (bằng lúa đối với đất trồng lúa; bằng nông sản đối với đất trồng cây công nghiệp/hàng năm khác nếu Nhà nước có kế hoạch thu mua). Trường hợp không thu bằng hiện vật thì thu bằng tiền theo giá do UBND cấp tỉnh quy định.
- Phân bổ ngân sách, khen thưởng và xử lý vi phạm
- Điều tiết ngân sách: Toàn bộ thuế nông nghiệp nộp vào ngân sách Nhà nước. Ngân sách cấp xã được hưởng tỷ lệ điều tiết 10% tính thành tiền theo giá chỉ đạo thu mua hai chiều.
- Quỹ khen thưởng: Trích lập bằng 0,5% tổng số thuế nông nghiệp thu được trong năm. Trong đó, 80% giao cho cấp tỉnh để khen thưởng cấp huyện, xã và cá nhân có thành tích; 20% do Bộ Tài chính quản lý để khen thưởng cấp tỉnh và bổ sung khi cần thiết.
- Xử lý vi phạm: Nộp chậm bị phạt 5% mỗi ngày trên số thuế chậm nộp (tối đa 200%). Hành vi man khai, lậu thuế bị phạt từ 100% đến 200% số thuế thiếu. Trốn nộp thuế và tiền phạt sẽ bị truy tố trước pháp luật.
- Ổn định nghĩa vụ lương thực: Những nơi đã giao mức nghĩa vụ ổn định lương thực 5 năm thì giữ nguyên mức nghĩa vụ, chỉ điều chỉnh tỷ lệ giữa phần thuế và phần thu mua tương ứng.
Hiệu lực và Hướng dẫn thi hành
Nghị định 25-HĐBT năm 1983 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Bộ Tài chính, Bộ Lương thực và các Bộ liên quan chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định này trên toàn quốc.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 25-HĐBT | Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 1983 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 25-HĐBT NGÀY 30-3-1983 QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH THUẾ NÔNG NGHIỆP
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng bộ trưởng ngày 4-7-1981;
Căn cứ pháp lệnh thuế nông nghiệp ngày 25-2-1983,
NGHỊ ĐỊNH :
Điều 1.- Những tổ chức và cá nhân dưới đây có nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp:
a) Các hợp tác xã nông nghiệp, các tập đoàn sản xuất nông nghiệp được công nhận là có quy chế như hợp tác xã nông nghiệp.
b) Các hộ nông dân sản xuất riêng lẻ, bao gồm cả các hộ nông dân đã tham gia các tổ chức đoàn kết sản xuất, các tập đoàn sản xuất nông nghiệp chưa được công nhận là hợp tác xã nông nghiệp.
c) Các xí nghiệp (trừ nông trường và trạm, trại nông nghiệp quốc doanh), cơ quan, đoàn thể, đơn vị lực lượng vũ trang có sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp.
d) Các hội tư nhận và tổ chức xã hội (nhà thờ, thánh thất, chùa, đền,...) có sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp.
e) Các xã viên hợp tác xã, tập đoàn viên các tập đoàn sản xuất nông nghiệp có quy chế như hợp tác xã nông nghiệp, công nhân, viên chức các cơ quan, xí nghiệp. (kể cả của nông trường, trạm, trại quốc doanh), cán bộ, chiến sĩ và các lực lượng vũ trang và cá nhân khác có sử dụng đất làm kinh tế phụ gia đình.
a) Những loại đất dưới đây phải chịu thuế nông nghiệp:
- Đất nông nghiệp, kể cả mặt nước nhỏ, đồng cỏ, bãi bồi.
- Đất khác( đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất khu dân cư, đất dự trữ..) nếu dùng vào sản xuất nông nghiệp, kể cả đất trồng cây lấy gỗ, lấy lá không thuộc diện phải nộp tiền nuôi rừng.
b) Những loại đất dưới đây không phải chịu thuế nông nghiệp:
- Đất làm trường học, trạm xá, nhà văn hoá, trụ sở của xã, đất làm nhà kho, sân phơi, nhà xưởng chế biến nông sản, chuồng chăn nuôi của hợp tác xã.
- Đất để ở, gồm diện tích thực tế đang sử dụng làm nền nhà, sân phơi, chuồng chăn nuôi và những công trình phụ khác.
- Đất do nông trường và trạm, trại nông nghiệp quốc doanh quản lý, sử dụng theo đúng nhiệm vụ thiết kế được duyệt.
- Đất làm công trình giao thông, thuỷ lợi lớn và vừa.
- Đất khai hoang, phục hoá chưa đến hạn chịu thuế. Đất ở vùng rẻo cao, ở vùng mới định canh định cư được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương quyết định chưa phải chịu thuế nông nghiệp.
- Nghĩa trang, sân vận động cố định, bể bơi cố định.
- Đất chưa giao cho tổ chức hoặc cá nhân nào quản lý, sử dụng.
c) Tổng cục Quản lý ruộng đất của Bộ Tài chính hướng dẫn và kiểm tra Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc xác định đất phải chịu thuế hoặc không phải chịu thuế nông nghiệp.
Khi tính năng suất trung bình hàng năm, chỉ tính những vụ chính, nhiều nhất là 2 vụ, không tính vụ phụ do người sử dụng đất tranh thủ làm thêm. Trường hợp năng suất trung bình đạt ngang nhau nhưng độ phì và điều kiện tưới, tiêu khác nhau thì xếp hạng đất khác nhau. Trường hợp độ phì và điều kiện tưới tiêu giống nhau, nhưng do trình độ thâm canh khác nhau mà đạt năng xuất trung bình khác nhau thì xếp cùng một hạng đất.
Năm 1983, uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương ra quyết định tạm thời xếp hạng đất để làm căn cứ tính thuế.
Việc chính thức công bố xếp hạng đất làm căn cứ tính thuế trong thời hạn 5 năm sẽ được tiến hành sau khi Bộ Tài chính phối hợp với Tổng cục Quản lý ruộng đất, Bộ Nông nghiệp và Bộ Thuỷ lợi kiểm tra, trình Hội đồng bộ trưởng quyết định.
Đất trồng cây dược liệu đặc biệt chịu thuế theo quyết định riêng của Hội đồng bộ trưởng.
Để định giá trị sản lượng thì căn cứ vào sản lượng và thời giá trung bình trong vụ thu hoạch ở địa phương. Nếu là vườn tạp trồng nhiều thứ cây thì căn cứ vào thu nhập trung bình trên đơn vị diện tích của đa số người có vườn tạp ở địa phương.
| | Diện tích vườn cây ăn quả của mỗi hộ | ||
| Loại cây ăn quả | Đến 1000 m2 | Đến 5000 m2 | Trên 5000 m2 |
| - Cây ăn quả nói chung | 20 % | 24 % | 28% |
| - Cây ăn quả đặc sản, giá trị kinh tế cao | 22% | 26% | 30% |
Vườn cây ăn quả thuộc kinh tế tập thể, không phân biệt quy mô chịu thuế theo thuế suất dưới đây:
- Cây ăn quả nói chung 18%.
- Cây ăn quả đặc sản,giá trị kinh tế cao 20%
Riêng vườn cây ăn quả thuộc kinh tế tập thể do các tổ phụ lão trông nom, chăm sóc, không phân biệt quy mô và loại cây ăn quả, chịu thuế theo thuế suất 10%.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương, căn cứ vào tình hình cụ thể ở địa phương, quy định danh mục các cây ăn quả đặc sản, giá trị kinh tế cao.
Điều 7. - Việc xét và quyết định giảm thuế, miễn thuế quy định như sau:
a) Trường hợp do thiên tai, địch hoạ mà mùa màng bị thiệt hại nặng thì lấy thu hoạch thực tế cả năm so với năng suất khởi điểm của từng hạng đất để tính thiệt hại, rồi căn cứ vào tỷ lệ thiệt hại mà miễn giảm thuế theo tỷ lệ như sau:
| Tỷ lệ thiệt hại | Tỷ lệ giảm thuế |
| Đến 20% | Không giảm |
| Đến 30% | 10% |
| Đến 40% | 20% |
| Đến 50% | 30% |
| Đến 60% | 50% |
| Đến 70% | 60% |
| Trên 70% | Miễn thuế |
Đối với đất hạng 7, năng suất khởi điểm để tính thiệt hại là 10 kg trên 100 m2.
Đối với đất vườn, đất trồng cây lâu năm, vấn đề giảm thuế, miễn thuế không đặt ra.
b) Trường hợp do tổ chức lại sản xuất hoặc thay đổi lại quy hoạch và phương án kinh tế - kỹ thuật được chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố hoặc đặc khu trực thuộc trung ương xét duyệt mà thu thập của tổ chức, cá nhân chịu thuế bị giảm sút nhiều so với trước, thì Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xem xét cụ thể, đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu quyết định.
c) Việc giảm thuế, miễn thuế do đời sống có nhiều khó khăn đối với những hộ trước đây được miễn thuế nông nghiệp theo chính sách cũ nay phải nộp thuế và đối với gia đình thương binh liệt sỹ quy định tại điều 16 và 17 của Pháp lệnh là thuộc các trường hợp sau đây già yếu, thiếu sức lao động, thu nhập thấp; ruộng đất ít, nhân khẩu nhiều, không có nguồn thu nhập nào khác; ốm đau, tai nạn bất ngờ làm giảm hoặc mất sức lao động... được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận.
d) Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương được quyền quyết định giảm thuế hoặc miễn thuế trong các trường hợp nói ở điều 15, điều 16, điều 17 của pháp lệnh trong phạm vi không quá 5% tổng số thuế ghi thu cả năm của tỉnh, thành phố, đặc khu.
Trường hợp thiên tai, địch hoạ nặng cần miễn giảm nhiều hơn mức quy định trên thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu đề nghị Hội đồng bộ trưởng quyết định. Trường hợp mùa màng bình thường thì không được sử dụng mức quy định trên để miễn, giảm tràn lan.
Để Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thể chủ động giải quyết kịp thời việc giảm thuế, miễn thuế nói ở điều 16 và 17 của Pháp lệnh, hàng năm, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu, trong phạm vi mức miễn, giảm quy định như trên, dự trù hạn mức miễn giảm giao cho từng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Thuế tính cả năm, không tính từng vụ, nhưng thu mỗi năm 2 lần, nếu địa phương có 2 vụ thu hoạch chính; thu mỗi năm một lần nếu địa phương chỉ có một vụ thu hoạch chính. Căn cứ vào mức thuế phải nộp cả năm do Hội đồng bộ trưởng giao cho từng tỉnh, thành phố, đặc khu, Bộ Tài chính phân bổ mức thu từng vụ cho từng tỉnh, thành phố, đặc khu.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu quy định và công bố ngày bắt đầu và, ngày kết thúc việc thu thuế nông nghiệp trong toàn tỉnh hoặc trong từng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc chậm nhất một tháng sau khi kết thúc vụ thu hoạch ở địa phương, phải thu xong thuế nông nghiệp. Nộp thuế sau ngày kết thúc thì bị coi là nộp chậm và bị xử phạt theo điều 25 của Pháp lệnh.
Tổ chức hoặc cá nhân nào sử dụng đất mà không khai báo hoặc không nộp thuế theo quy định trên thì coi là có hành vi gian lận trong việc tính thuế, nộp thuế và bị xử phát theo điều 25 của Pháp lệnh.
Đứng tên trong sổ thuế nông nghiệp là tổ chức hoặc cá nhân được giao đất để sử dụng. Trường hợp tổ chức (nông trường, trạm, trại, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất...) giao lại một phần đất cho công nhân, viên chức, xã viên. .. để làm kinh tế phụ gia đình hoặc giao lại cho tổ chức và cá nhân khác để sản xuất tự túc, thì tổ chức có nhiệm vụ tính thuế và thu thuế của những người nhận đất để nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, nơi tổ chức đóng trụ sở.
Tỷ lệ quy đổi giữa lúa và các nông sản khác do Bộ Tài chính công bố sau khi trao đổi với Bộ Lương thực và Bộ Nội thương, Bộ Công nghiệp thực phẩm.
Hàng năm, ngân sách xã, phường, thị trấn được hưởng tỷ lệ điều tiết 10% trên tổng số thuế nông nghiệp thu được tính thành tiền theo giá chỉ đạo thu mua hai chiều tại địa phương. Bộ Tài chính quy định cụ thể việc chuyển số tiền này cho ngân sách xã, phường, thị trấn.
Việc điều tiết số thu về thuế nông nghiệp cho ngân sách tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương được quy định trong chế độ phân cấp quản lý tài chính và ngân sách Nhà nước.
Quỹ khen thưởng về công tác thuế nông nghiệp sử dụng như sau:
- 80% giao cho các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương (cũng tức là 4 phần nghìn số thuế thu trong năm của tỉnh, thành phố, đặc khu) để uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu khen thưởng các đơn vị, tổ chức và cá nhân có thành tích ở cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và cấp xã, phường, thị trấn.
- 20% do Bộ Tài chính quản lý để khen thưởng các địa phương, tổ chức và cá nhân có thành tích ở cấp tỉnh (và tương đương) và để bổ sung quỹ khen thưởng cho một số tỉnh, thành phố, đặc khu, xét cần thiết.
Kết thúc năm thuế nông nghiệp, nếu không sử dụng hết thì tỉnh, thành phố, đặc khu và Bộ được chuyển số còn lại sang quỹ khen thưởng năm sau do mình quản lý.
Bộ Tài chính quy định cụ thể chế độ trích lập và sử dụng quỹ khen thưởng.
Điều 13.- Việc phạt tiền hoặc hiện vật nói ở điều 25 của Pháp lệnh quy định như sau:
- Quá hạn nộp thuế mà vẫn chưa nộp thì mỗi ngày phải nộp phạt bằng 5% số thuế phải nộp. Mức phạt tối đa có thể đến 200% số thuế phải nộp.
- Nếu man khai, lậu thuế bị phát hiện, thì chẳng những phải nộp đủ số thuế thiếu mà còn phải nộp phạt bằng 100% đến 200% số thuế phải nộp.
- Nếu không nộp thuế và nộp phạt thì bị truy tố trước Pháp luật.
| Tố Hữu (Đã ký) |
Nghị định 25-HĐBT năm 1983 thi hành Pháp lệnh thuế nông nghiệp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 25-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 30/03/1983
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Tố Hữu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 6
- Ngày hiệu lực: 14/04/1983
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/1989
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
