Nghị định số 23/2001/NĐ-CP do Chính phủ ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đăng ký tàu biển và thuyền viên kèm theo Nghị định số 91/CP ngày 23 tháng 8 năm 1997. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký tàu biển tạm thời và quản lý hoạt động của thuyền viên trong nước cũng như ngoài nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực, các chủ tàu, thuyền viên là công dân Việt Nam, thuyền viên là người nước ngoài, cùng các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải và thủy sản tại Việt Nam.
Quy định về cấp Giấy chứng nhận tạm thời về đăng ký tàu biển
Nghị định bổ sung Điều 10a vào Quy chế đăng ký tàu biển và thuyền viên, quy định chi tiết về các trường hợp được cấp, hồ sơ yêu cầu và thời hạn của Giấy chứng nhận tạm thời về đăng ký tàu biển:
- Các trường hợp được cấp giấy chứng nhận tạm thời: Cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực thực hiện cấp giấy chứng nhận tạm thời cho tàu biển trong hai trường hợp. Thứ nhất, khi tiến hành đăng ký tàu biển cũ mua của nước ngoài để sử dụng nhưng chủ tàu chưa có giấy chứng nhận xóa tên đăng ký tàu biển và giấy chứng nhận đã nộp lệ phí trước bạ. Thứ hai, khi mua tàu đóng mới của nước ngoài nhưng chủ tàu chưa có giấy chứng nhận đã nộp lệ phí trước bạ theo quy định.
- Trường hợp chạy thử tàu đóng mới trong nước: Đối với tàu biển đóng mới tại Việt Nam cần chạy thử về nơi đăng ký chính thức, chủ tàu phải nộp bản sao các giấy tờ cho cơ quan đăng ký khu vực bao gồm: Hợp đồng đóng tàu hoặc hợp đồng chuyển dịch sở hữu tàu; Hồ sơ an toàn kỹ thuật của tàu do cơ quan Đăng kiểm cấp; Giấy phép sử dụng đài tàu do cơ quan Bưu điện cấp.
- Thời hạn của giấy chứng nhận: Giấy chứng nhận tạm thời về đăng ký tàu biển được cấp cho tàu chỉ có giá trị sử dụng trong thời hạn tối đa là 90 ngày.
Quy định về định biên và chức danh thuyền viên
Nghị định thực hiện sửa đổi Khoản 2 Điều 24 của Quy chế nhằm phân cấp và làm rõ thẩm quyền quản lý nhà nước đối với lao động thuyền viên:
- Thẩm quyền quyết định: Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và Bộ trưởng Bộ Thủy sản được giao thẩm quyền quy định cụ thể về định biên và chức danh thuyền viên. Việc quy định này phải căn cứ vào đặc tính kỹ thuật của tàu và yêu cầu trình độ nghề nghiệp chuyên môn, kinh nghiệm của thuyền viên nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối trong khai thác từng loại tàu biển.
- Đối tượng điều chỉnh: Quy định chi tiết về số lượng và các chức danh thuyền viên là công dân nước ngoài được phép làm việc trên tàu biển Việt Nam, cũng như thuyền viên là công dân Việt Nam được phép làm việc trên tàu biển nước ngoài.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
Nghị định số 23/2001/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 23/2001/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2001 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Bộ Luật Hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đăng ký tầu biển và thuyền viên ban hành kèm theo Nghị định số 91/CP ngày 23 tháng 8 năm 1997 của Chính phủ như sau:
"Điều 10a
1. Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực cấp giấy chứng nhận tạm thời về đăng ký tầu biển cho các trường hợp sau đây:
a) Khi tiến hành đăng ký tầu biển cũ mua của nước ngoài để sử dụng nhưng chủ tầu chưa có giấy chứng nhận xoá tên đăng ký tầu biển và giấy chứng nhận đã nộp lệ phí trước bạ hoặc khi mua tầu đóng mới của nước ngoài nhưng chủ tầu chưa có giấy chứng nhận đã nộp lệ phí trước bạ như quy định tại Điều 10 của Quy chế đăng ký tầu biển và thuyền viên ban hành kèm theo Nghị định số 91/CP ngày 23 tháng 8 năm 1997 của Chính phủ.
b) Khi tiến hành đăng ký tầu biển đóng mới tại Việt Nam để chạy thử tầu về nơi đăng ký chính thức, thì chủ tầu phải nộp bản sao các giấy tờ sau đây cho cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực:
Hợp đồng đóng tầu hoặc hợp đồng chuyển dịch sở hữu tầu,
Hồ sơ an toàn kỹ thuật của tầu do cơ quan Đăng kiểm cấp,
Giấy phép sử dụng đài tầu do cơ quan Bưu điện cấp.
2. Giấy chứng nhận tạm thời về đăng ký tầu biển được cấp cho tầu chỉ có giá trị trong 90 ngày".
3. Khoản 2 Điều 24 được sửa đổi như sau:
"2. Tuỳ theo đặc tính kỹ thuật của tầu và yêu cầu trình độ nghề nghiệp chuyên môn, kinh nghiệm của thuyền viên để bảo đảm an toàn khai thác từng loại tầu biển, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Thủy sản (theo Điều 4 của Quy chế đăng ký tầu biển và thuyền viên ban hành kèm theo Nghị định số 91/CP ngày 23 tháng 8 năm 1997 của Chính phủ) quy định cụ thể về số lượng và các chức danh thuyền viên là công dân nước ngoài được phép làm việc trên tầu biển Việt Nam và thuyền viên là công dân Việt Nam được phép làm việc trên tầu biển nước ngoài".
Điều 2. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
Nghị định 23/2001/NĐ-CP sửa đổi Quy chế đăng ký tàu biển và thuyền viên kèm theo Nghị định 91/CP năm 1997
- Số hiệu: 23/2001/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 30/05/2001
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 24
- Ngày hiệu lực: 14/06/2001
- Ngày hết hiệu lực: 12/06/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
