Nghị định 168-CP năm 1961 do Hội đồng Chính phủ ban hành kèm theo Điều lệ về lập và chấp hành ngân sách Nhà nước nhằm tăng cường quản lý kinh tế, cải tiến công tác kế hoạch hóa tài chính, củng cố kỷ luật tài chính và đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan, xí nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch kinh tế quốc dân.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Điều lệ này áp dụng đối với tất cả các Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Ủy ban hành chính các địa phương, các xí nghiệp quốc doanh, công trường, tổ chức kinh doanh, đơn vị sự nghiệp và các cơ quan hành chính, quyền lực Nhà nước trong toàn bộ quy trình lập, chấp hành, kế toán và quyết toán ngân sách Nhà nước.
Các nội dung cốt lõi của Điều lệ
-
Nguyên tắc chung về ngân sách Nhà nước:
- Ngân sách Nhà nước là kế hoạch tài chính cơ bản nhằm tập trung và sử dụng vốn tiền tệ của Nhà nước, có mối quan hệ mật thiết và phải hoàn toàn ăn khớp với kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân.
- Hệ thống ngân sách gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 dương lịch hàng năm.
- Các khoản thu ngân sách bao gồm: thu từ kinh tế quốc doanh (lợi nhuận xí nghiệp, các khoản nộp khác), thuế và các khoản đóng góp của nhân dân.
- Các khoản chi ngân sách bao gồm: chi kiến thiết kinh tế (cấp vốn kiến thiết cơ bản, vốn lưu động, kinh phí sự nghiệp kinh tế, dự trữ vật tư); chi văn hóa - xã hội (giáo dục, y tế, khoa học, bảo hiểm xã hội); chi quốc phòng; chi quản lý hành chính (gắn liền với tinh giản bộ máy) và các khoản chi khác theo quy định.
-
Quy trình lập dự án ngân sách Nhà nước:
- Hàng năm, Hội đồng Chính phủ ban hành chỉ thị về lập dự án ngân sách song song với chỉ thị lập kế hoạch kinh tế quốc dân. Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn cụ thể về biểu mẫu, thời hạn và cách thức thực hiện.
- Các Bộ, ngành trực thuộc giao số kiểm tra tài vụ cho các đơn vị trực thuộc lập dự án kế hoạch tài vụ, sau đó thẩm định và lập dự án kế hoạch tài vụ tổng hợp gửi Hội đồng Chính phủ, đồng gửi Bộ Tài chính và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.
- Ủy ban hành chính địa phương chỉ đạo cơ quan Tài chính đồng cấp thẩm tra dự án của các ngành, lập dự án ngân sách địa phương bảo đảm thăng bằng thu chi, trình Ủy ban hành chính xét duyệt trước khi gửi lên trung ương.
- Bộ Tài chính có nhiệm vụ tổng hợp các dự án của các Bộ, ngành và địa phương để lập dự án ngân sách Nhà nước toàn diện trình Hội đồng Chính phủ. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra tính cân đối giữa chỉ tiêu kế hoạch kinh tế và chỉ tiêu ngân sách.
- Sau khi Hội đồng Chính phủ thông qua và Quốc hội phê chuẩn, Bộ Tài chính thông báo chính thức chỉ tiêu ngân sách cho các Bộ, ngành và địa phương. Ủy ban hành chính địa phương trình dự án ngân sách địa phương để Hội đồng nhân dân cùng cấp phê chuẩn.
-
Chấp hành ngân sách Nhà nước và kỷ luật tài chính:
- Hội đồng Chính phủ thống nhất chỉ đạo chấp hành ngân sách thông qua các Bộ, ngành và Ủy ban hành chính địa phương nhằm bảo đảm thu đúng, thu đủ, cấp phát vốn kịp thời và thực hành tiết kiệm triệt để.
- Tất cả các cơ quan, xí nghiệp phải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thu vào ngân sách, tuyệt đối không được tự ý giữ lại để chi tiêu. Trường hợp nộp chậm, cơ quan Tài chính có quyền phạt hoặc yêu cầu Ngân hàng Nhà nước trích tài khoản của đơn vị để nộp ngân sách.
- Nguyên tắc cấp phát vốn ngân sách được thực hiện theo thể thức "cấp phát hạn mức" thông qua Ngân hàng Nhà nước. Cơ quan Tài chính và Ngân hàng Nhà nước có quyền hạn chế hoặc tạm đình chỉ cấp vốn nếu phát hiện đơn vị sử dụng sai mục đích hoặc vi phạm kỷ luật tài chính.
- Khi năm ngân sách kết thúc, các khoản thu phát sinh từ ngày 1 tháng 1 năm mới phải ghi vào ngân sách năm mới. Các khoản tồn khoản không được tự ý chuyển sang năm sau sử dụng, trừ trường hợp đặc biệt do Nhà nước quy định.
- Nghiêm cấm các Bộ, ngành, địa phương tự ý tăng chi về vốn lưu động, vốn kiến thiết cơ bản, quỹ lương và kinh phí quản lý hành chính đã được duyệt.
- Địa phương được quyền sử dụng số thu vượt dự toán và số tiết kiệm chi cho các công việc lợi ích chung tại địa phương, nhưng không được vượt quá khống chế của trung ương về biên chế, tiền lương. Số kết dư cuối năm của ngân sách địa phương được phép chuyển sang sử dụng cho năm sau.
-
Chế độ kế toán, thống kê và báo cáo quyết toán:
- Chế độ thống kê kế toán ngân sách do Bộ Tài chính quy định sau khi thống nhất với Tổng cục Thống kê.
- Các Bộ, ngành, địa phương và đơn vị cơ sở có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện thu chi hàng tháng, hàng quý và lập báo cáo quyết toán năm chính xác, trung thực kèm bản phân tích sâu sắc tình hình tài chính. Nếu chậm trễ báo cáo, Bộ Tài chính có quyền tạm đình chỉ cấp phát kinh phí.
- Trình tự lập quyết toán thực hiện từ cấp cơ sở lên cơ quan quản lý trực tiếp, sau đó tổng hợp gửi Bộ chủ quản và Bộ Tài chính. Ủy ban hành chính địa phương lập tổng quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân phê chuẩn trước khi gửi Bộ Tài chính.
- Bộ Tài chính tổng hợp tổng quyết toán ngân sách Nhà nước trình Hội đồng Chính phủ xét duyệt để trình Quốc hội phê chuẩn chậm nhất trong tháng 6 năm sau.
-
Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm:
- Bộ trưởng Bộ Tài chính có nhiệm vụ thường xuyên giám đốc, kiểm tra việc tôn trọng kỷ luật thu chi và sử dụng vốn của Nhà nước tại tất cả các cơ quan, xí nghiệp.
- Thủ trưởng các Bộ, ngành, địa phương và đơn vị cơ sở phải tự kiểm tra, giám sát tài chính trong nội bộ hệ thống của mình.
- Mọi hành vi vi phạm các quy định của Điều lệ này, tùy theo mức độ nặng nhẹ, sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính nghiêm khắc hoặc bị truy tố trước pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Điều lệ ban hành kèm theo Nghị định 168-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố. Tất cả các quy định trước đây về lập và chấp hành ngân sách Nhà nước trái với Điều lệ này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành chi tiết Điều lệ này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT |
| Số: 168-CP | Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 1961 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Theo đề nghị của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp Hội nghị thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 23 tháng 11 năm 1960;
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. – Nay ban hành điều lệ về lập và chấp hành ngân sách Nhà nước nhằm:
- Tăng cường công tác quản lý kinh tế, quản lý tài chính, cải tiến công tác kế hoạch hóa tài chính, và củng cố kỷ luật tài chính của Nhà nước.
- Đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp, của đơn vị xí nghiệp, các cơ quan trong việc quản lý tài chính, thực hiện kế hoạch kinh tế quốc dân.
Điều 4. - Ông Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành điều lệ này.
| T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |
Vốn ngân sách Nhà nước được lập, chủ yếu dựa vào các khoản thu nhập của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không ngừng tăng lên, trên cơ sở sản xuất mở rộng và cải tiến không ngừng.
Nhân dân đóng góp một phần thu nhập của mình vào ngân sách Nhà nước, bằng cách nộp các khoản thuế do Nhà nước quy định, và những khoản khác do các cá nhân và các tổ chức tự nguyện góp vào công quỹ.
Phát hiện và động viên mọi nguồn thu tiềm tàng trong nền kinh tế quốc dân;
Thực hiện chế độ tiết kiệm, đảm bảo phân phối vốn theo các tỷ lệ cân đối đã định trong kế hoạch kinh tế quốc dân, lập vốn dự trữ của Nhà nước.
Điều 3. – Ngân sách Nhà nước gồm có ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Việc phân phối thu và chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương căn cứ vào chế độ phân cấp quản lý kinh tế và tài chính của Nhà nước, do Hội đồng Chính phủ quy định nhằm: bảo đảm nhu cầu kinh phí của Nhà nước ở cấp trung ương, đồng thời nâng cao tính tích cực của địa phương, bảo đảm sự phát triển nhanh chóng và cân đối giữa các địa phương, giúp đỡ các dân tộc thiểu số mau tiến kịp trình độ kinh tế và văn hóa chung.
Điều 4. - Năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1 tháng giêng và kết thúc ngày 31 tháng 12 dương lịch.
Ngân sách Nhà nước, được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phê chuẩn, là một đạo luật: các Bộ, các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các Ủy ban hành chính địa phương, các xí nghiệp, các tổ chức và cơ quan các ngành, các cấp phải thực hiện ngân sách Nhà nước một cách nghiêm chỉnh, nộp đầy đủ và kịp thời những khoản thu đã quy định trong ngân sách, và triệt để thực hành tiết kiệm trong việc chi dùng vốn của Nhà nước.
Lập dự án ngân sách Nhà nước phải xuất phát từ nhiệm vụ bảo đảm đầy đủ vốn để thực hiện những chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân, nâng cao phúc lợi vật chất và văn hóa của nhân dân, thực hiện việc củng cố quốc phòng, bảo đảm các mặt hoạt động khác của Nhà nước, đồng thời phải bảo đảm thu chi thăng bằng, và cố gắng thu nhiều hơn chi một ít.
Chi về văn hóa, xã hội, bao gồm các khoản cấp vốn kiến thiết cơ bản cho các công trình xây dựng về văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, y tế, xã hội; các khoản cấp vốn để thực hiện các sự nghiệp văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, y tế, xã hội, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội. Lúc định mức chi của Nhà nước về văn hóa xã hội phải căn cứ vào mức tăng thu nhập quốc dân và khả năng vốn của ngân sách Nhà nước.
Chi về hành chính bao gồm các khoản chi để đảm bảo sự hoạt động của các cơ quan quyền lực của Nhà nước, các cơ quan quản lý Nhà nước, các Tòa án nhân dân và các Viện Kiểm sát nhân dân. Xác định các khoản chi về hành chính phải căn cứ vào nhiệm vụ tăng cường đi đôi với tinh giản bộ máy quản lý Nhà nước, tiết kiệm các khoản chi về bộ máy đó.
Bộ Tài chính căn cứ vào chỉ thị của Hội đồng Chính phủ ra thông tư hướng dẫn cụ thể các ngành các cấp tiến hành lập dự án ngân sách Nhà nước.
Các Bộ, các cơ quan chủ quản trực thuộc Hội đồng Chính phủ tổ chức việc lập dự án kế hoạch thu chi tài vụ và dự án dự toán kinh phí của mình, các Ủy ban hành chính địa phương tổ chức việc lập dự án ngân sách địa phương.
Để đảm bảo sự thống nhất khi làm ngân sách, việc lập dự án kế hoạch tài vụ và dự án dự toán kinh phí phải theo đúng những khoản, mục, biểu mẫu do Bộ Tài chính quy định sau khi đã thỏa thuận với Tổng cục Thống kê trung ương.
Thủ trưởng các Bộ và cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ giao số kiểm tra tài vụ cho các cơ quan trực thuộc, và hướng dẫn các xí nghiệp và tổ chức kinh doanh do mình quản lý lập dự án kế hoạch tài vụ;
Cán bộ phụ trách các xí nghiệp và tổ chức kinh doanh, căn cứ vào con số kiểm tra và hướng dẫn của cấp trên mà lập dự án kế hoạch tài vụ cho xí nghiệp mình. Thủ trưởng của Bộ và cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ lập dự án kế hoạch tài vụ và dự toán kinh phí của cơ quan mình.
Sau khi lập xong dự án kế hoạch tài vụ, cán bộ phụ trách các xí nghiệp và tổ chức kinh doanh gửi lên cơ quan cấp trên trực tiếp. Cơ quan này xét và gửi lên Bộ hay cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Thủ trưởng các Bộ, các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ xét các dự án kế hoạch tài vụ và các dự toán kinh phí của các cơ quan trực thuộc, lập thành dự án kế hoạch tài vụ tổng hợp và dự toán kinh phí chung cho cơ quan có chi ra thành từng quý gửi lên Hội đồng Chính phủ để xét; và gửi một bản cho Bộ Tài chính để nghiên cứu lập dự án ngân sách trung ương, một bản cho Ủy ban Kế hoạch Nhà nước để kiểm tra sự cân đối và ăn khớp giữa kế hoạch kinh tế quốc dân và kế hoạch tài vụ.
Lập và xét ngân sách địa phương, phải bảo đảm thu chi thăng bằng trên cơ sở chế độ phân cấp quản lý tài chính hiện hành. Trường hợp phải dự trù những khoản chi có tính chất đột xuất, Ủy ban hành chính địa phương phải cố gắng tăng thu giảm chi để bảo đảm các khoản chi đó; chỉ trong trường hợp không tự giải quyết được thì mới đề nghị trung ương trợ cấp; ngân sách trung ương trợ cấp trong phạm vi khả năng của mình.
Khi lập dự án ngân sách Nhà nước, Bộ Tài chính phải:
- Đảm bảo sự cân đối giữa các chỉ tiêu tài chính và các nhiệm vụ đã quy định trong dự án kế hoạch kinh tế quốc dân.
- Phát hiện và tính toán đầy đủ các nguồn thu trong nền kinh tế quốc dân; tính toán hợp lý và tiết kiệm các khoản chi; xác định đúng đắn các khoản nộp vào ngân sách và các khoản chi do ngân sách cấp phát;
- Kiểm tra tình hình quản lý tài vụ, kinh doanh và tình hình thực hiện các nhiệm vụ của kế hoạch của các Bộ, các xí nghiệp, các tổ chức và cơ quan;
- Đảm bảo sự chấp hành nghiêm chỉnh các chế độ, chính sách hiện hành về giá cả, tiền lương tiêu chuẩn chi phí vật tư, tiền tệ, và các tiêu chuẩn định mức khác.
Kèm theo dự án ngân sách Nhà nước, phải gửi: dự án ngân sách trung ương; các dự án kế hoạch tài vụ tổng hợp của các Bộ và cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ; các dự án ngân sách địa phương.
Khi đệ trình dự án ngân sách Nhà nước lên Hội đồng Chính phủ, Bộ Tài chính phải gửi cho các Bộ và cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ bản nhận xét về dự án kế hoạch tài vụ tổng hợp và dự án dự toán kinh phí, mà Bộ Tài chính đã đệ trình lên Hội đồng Chính phủ, và gửi cho Ủy ban hành chính địa phương bản nhận xét của Bộ Tài chính về dự án ngân sách của địa phương.
Trường hợp có Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ hay Ủy ban hành chính địa phương không đồng ý về mức thu, mức chi do Bộ Tài chính ghi vào dự án ngân sách Nhà nước, thì Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ hoặc Ủy ban hành chính địa phương đó báo cáo lên Hội đồng Chính phủ xét; đồng thời gửi một bản sao báo cáo này cho Bộ Tài chính.
Điều 21. - Sau khi ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội phê chuẩn, Bộ Tài chính phải:
- Thông báo cho các Bộ và cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ kế hoạch tài vụ tổng hợp và dự toán kinh phí của Bộ hoặc cơ quan đó đã được ghi vào ngân sách Nhà nước.
- Thông báo cho Ủy ban hành chính địa phương tổng số thu chi ngân sách địa phương được ghi vào ngân sách Nhà nước.
Cán bộ phụ trách các xí nghiệp, căn cứ vào nhiệm vụ đã được quy định, động viên cán bộ, công nhân, nhân viên tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, tài vụ của xí nghiệp, nhằm phát huy mọi khả năng của xí nghiệp để hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu của kế hoạch, sử dụng tiết kiệm vốn, tăng thêm vốn cho ngân sách, ra sức củng cố và nâng cao chế độ hạch toán kinh tế. Kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, tài vụ phải gửi lên cấp trên phê chuẩn. Khi phê chuẩn, phải phát hiện các nhân tố tích cực nhằm đảm bảo thực hiện vượt mức kế hoạch.
Cán bộ phụ trách các công trường, căn cứ vào nhiệm vụ kiến thiết cơ bản đã được quy định, động viên cán bộ, công nhân, nhân viên tham gia lập kế hoạch xây dựng và kế hoạch thu chi tài vụ nhằm đẩy mạnh tốc độ thi công, hoàn thành đúng hạn khối lượng công trình, giảm giá thành xây dựng, tiết kiệm vốn, thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế.
Cán bộ phụ trách các cơ quan các tổ chức của Nhà nước, căn cứ vào nhiệm vụ công tác đã được quy định, động viên cán bộ, công nhân, nhân viên tham gia lập kế hoạch thu chi nhằm tiết kiệm vốn, hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ công tác.
Ủy ban hành chính địa phương có nhiệm vụ trình dự án ngân sách địa phương cho Hội đồng nhân dân xét và phê chuẩn như điều 82 của Hiến pháp đã quy định.
Chấp hành ngân sách Nhà nước bao gồm việc chấp hành ngân sách trung ương, chấp hành ngân sách địa phương, chấp hành kế hoạch tài vụ và dự toán kinh phí của các Bộ, các cơ quan, các xí nghiệp và tổ chức thuộc các ngành, các cấp.
Các Bộ, các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các Ủy ban hành chính địa phương, chấp hành ngân sách Nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ và chức trách của mình, nhằm:
- Đảm bảo thu đầy đủ và kịp thời tất cả số thu đã ghi vào ngân sách, cố gắng thu vượt mức và đúng chính sách, đúng chế độ của Nhà nước.
- Đảm bảo cung cấp kịp thời số vốn cần thiết theo những khoản chi đã được ghi trong ngân sách, đảm bảo chi tiêu, theo đúng những mục tiêu phải thực hiện.
- Đảm bảo thực hiện chế độ tiết kiệm, chống lãng phí tham ô, để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch kinh tế quốc dân.
Điều 24. - Các Bộ, các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ có nhiệm vụ:
- Chấp hành kế hoạch tài vụ và dự toán kinh phí của các xí nghiệp, các tổ chức và cơ quan trực thuộc, đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu đã quy định, đồng thời đảm bảo sử dụng hết sức tiết kiệm các khoản chi của ngân sách. Các Bộ, các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ phải thường xuyên kiểm tra tình hình tài chính và kinh doanh của các xí nghiệp, tổ chức và cơ quan; phải xây dựng kế hoạch thu chi quý tích cực hơn kế hoạch cả năm và gửi các kế hoạch đó cho Bộ Tài chính; phải kết hợp chặt chẽ việc quản lý tài vụ với quản lý kế hoạch kinh tế quốc dân quản lý sự nghiệp và mọi mặt công tác của ngành mình phụ trách.
- Điều chỉnh kịp thời các dự án kế hoạch tài vụ và dự toán kinh phí chính thức của các xí nghiệp, các tổ chức và cơ quan trực thuộc, sau khi ngân sách Nhà nước đã được chính thức phê chuẩn và ban hành.
- Đề ra những biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo cho mỗi xí nghiệp, tổ chức, cơ quan trực thuộc đều hoàn thành tốt kế hoạch tài vụ, dự toán kinh phí và chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tài chính và kỷ luật quản lý tiền mặt. Trong trường hợp cần thiết có thể gửi kiến nghị lên Hội đồng Chính phủ về các biện pháp nhằm thực hiện tốt kế hoạch tài vụ và dự toán kinh phí của Bộ hay cơ quan mình.
- Đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch thu của ngân sách địa phương và của ngân sách trung ương.
- Đề ra những biện pháp để các cấp chính quyền và các cơ quan trực thuộc hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các khoản chi của ngân sách.
- Lập và chấp hành kế hoạch thu chi quý của ngân sách địa phương và báo cáo lên Bộ Tài chính.
Điều 26. - Tất cả các xí nghiệp, tổ chức và cơ quan đều có nhiệm vụ:
- Chấp hành nghiêm chỉnh, đúng đắn kế hoạch tài vụ và dự toán kinh phí.
- Nộp đủ và kịp thời vào ngân sách Nhà nước những khoản tiền do luật lệ hiện hành quy định, không được giữ lại các khoản đó để chi tiêu, trừ trường hợp cụ thể do Nhà nước đã quy định.
- Chấp hành nghiêm chỉnh các phương hướng và mục đích chi tiêu của kế hoạch tài vụ và dự toán kinh phí.
- Thi hành triệt để chế độ tiết kiệm trong việc sử dụng mọi của cải vật chất và tiền tệ.
Cơ quan Tài chính có trách nhiệm đôn đốc các cơ quan, tổ chức, xí nghiệp nộp tiền đúng hạn cho Nhà nước; nếu nộp chậm, cơ quan Tài chính có quyền phạt theo quy định của Nhà nước, cơ quan Tài chính có quyền yêu cầu các cơ quan Ngân hàng Nhà nước trích tài khoản của cơ quan, tổ chức, xí nghiệp gửi lại Ngân hàng, để nộp cho ngân sách các khoản tiền không nộp đúng hạn; các cơ quan Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thi hành quyết định của cơ quan Tài chính.
Tiền của ngân sách Nhà nước cấp phát cho các Bộ, cơ quan thuộc loại do ngân sách cấp kinh phí, phải được sử dụng theo đúng với hướng chi tiêu đã định trong bản dự toán kinh phí đã được duyệt.
Mọi việc chi tiêu tiền được cấp phát vào những mục đích ngoài quy định của ngân sách đều là vi phạm kỷ thuật tài chính.
Không có kinh phí, không được chi; nếu muốn chi thêm, ngoài dự trù ngân sách được phê chuẩn, thì phải xin Hội đồng Chính phủ cấp thêm kinh phí.
Điều 29. - Bộ Tài chính có nhiệm vụ:
- Lập kế hoạch thu chi hàng quý trình Hội đồng Chính phủ. Kế hoạch thu chi hàng quý phải thăng bằng, phù hợp với tình hình và nhu cầu chấp hành kế hoạch kinh tế quốc dân hàng quý, giữ vững thăng bằng giữa tài chính, vật tư và tiền tệ; kế hoạch thu chi quý phải tích cực hơn ngân sách cả năm; hết sức khai thác mọi khả năng tiềm tàng để tăng thu, triệt để thực hành chế độ tiết kiệm.
- Thường xuyên kiểm tra việc thu nộp vào ngân sách, tổ chức việc cấp phát vốn kịp thời và không gián đoạn, kiểm tra việc thực hiện chế độ tiết kiệm, việc chấp hành kế hoạch sản xuất và tài vụ của các xí nghiệp, cơ quan.
- Đề ra những biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện tốt ngân sách Nhà nước và trong trường hợp cần thiết, đề ra những kiến nghị tăng thu, tiết kiệm chi thích hợp trình Hội đồng Chính phủ xét định.
- Xét những đề nghị có liên quan đến việc chấp hành ngân sách Nhà nước của các Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các Ủy ban hành chính địa phương, và nếu cần, trình lên Hội đồng Chính phủ xét định.
- Hướng dẫn Ủy ban hành chính địa phương chấp hành ngân sách địa phương.
Để tăng cường việc quản lý tiền mặt, nguyên tắc cấp phát vốn ngân sách là “cấp phát hạn mức” theo thể thức do Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước quy định.
Trong khi chấp hành ngân sách Nhà nước, các Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các xí nghiệp, tổ chức, trung ương cũng như địa phương phải triệt để tuân theo những nguyên tắc và biện pháp của Nhà nước về quản lý tiền mặt. Không tôn trọng những nguyên tắc và biện pháp về quản lý tiền mặt là vi phạm kỷ luật tài chính của Nhà nước.
- Số dự trù chỉ ăn khớp với mục tiêu phải thực hiện đã ghi trong kế hoạch tài vụ và dự toán kinh phí;
- Số tiền cấp phát lần trước đã được sử dụng đúng với mục tiêu phải thực hiện;
- Kế hoạch tài vụ và dự toán kinh phí, được chấp hành tốt.
Các cơ quan Tài chính và Ngân hàng Nhà nước có quyền hạn chế hoặc tạm đình chỉ cấp vốn của ngân sách, và báo cáo lên cấp trên giải quyết nếu xét thấy có tình trạng sử dụng tiền cấp phát không đúng với mục tiêu phải thực hiện đã quy định hoặc có tình trạng vi phạm kỷ luật tài chính.
Cách thức kết toán ngân sách hàng năm do Bộ Tài chính quy định sau khi thỏa thuận với Ngân hàng Nhà nước; yêu cầu của quy định này là đảm bảo kết toán gọn gàng và công việc chi tiêu không bị gián đoạn.
Những kinh phí khác thì được phép điều chỉnh trong phạm vi và điều kiện được Hội đồng Chính phủ quy định.
Trong năm kế hoạch, nếu tăng được thu, tiết kiệm được chi, thì địa phương có quyền sử dụng số thu trội vào những công việc lợi ích chung ở địa phương, nhưng không được vượt quá con số khống chế của trung ương về biên chế và tiền lương, hoặc ảnh hưởng đến sự cân đối chung của kế hoạch Nhà nước.
Nếu do tăng thu, tiết kiệm chi mà cuối năm có kết dư thì Ủy ban hành chính địa phương có thể sử dụng số kết dư này trong năm sau.
Công tác thống kê, kế toán ngân sách Nhà nước do Bộ Tài chính và cơ quan Tài chính, cơ quan Ngân hàng Nhà nước các cấp, các ngành, các xí nghiệp, công trường và các cơ quan chủ quản ở địa phương đảm nhiệm.
Điều 40. - Báo cáo quyết toán lập theo trình tự dưới đây:
Xí nghiệp, tổ chức kinh doanh, đơn vị sự nghiệp hay hành chính lập báo cáo quyết toán gửi lên Cục (hay cơ quan quản lý trực tiếp) xét duyệt;
Cục (hay cơ quan quản lý trực tiếp) xét duyệt và báo cáo lên Bộ và cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ.
- Bộ (hay cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ) lập quyết toán của mình gửi Hội đồng Chính phủ xét duyệt, đồng gửi cho Bộ Tài chính.
Các cơ quan Tài chính địa phương có nhiệm vụ lập và trình báo cáo tình hình chấp hành ngân sách hàng tháng, hàng quý, hàng năm, và bản phân tích tình hình chấp hành ngân sách địa phương lên Ủy ban hành chính địa phương xét duyệt.
Thủ trưởng các Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ và Ủy ban hành chính địa phương có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra, giám đốc tài chính đối với các xí nghiệp, tổ chức và cơ quan trực thuộc; thủ trưởng các ngành, các cấp, các xí nghiệp có nhiệm vụ giúp đỡ Bộ Tài chính làm công tác kiểm tra cho tốt.
Thủ trưởng các đơn vị xí nghiệp, sự nghiệp, cơ quan có nhiệm vụ chấp hành đầy đủ và nghiêm chỉnh các điều quy định trong điều lệ này, đảm bảo việc chấp hành kế hoạch thu chi tài vụ và dự toán kinh phí trong đơn vị được tốt. Mọi vi phạm kỷ luật tài chính, vi phạm các điều quy định trong bản điều lệ này, tùy theo lỗi nặng nhẹ, sẽ bị thi hành kỷ luật một cách thích đáng, và có thể bị truy tố trước pháp luật.
- 1Thông tư 17-TC/QLNS-1976 về việc lập tổng quyết toán ngân sách Nhà nước năm 1976 do Bộ Tài Chính ban hành
- 2Chỉ thị 32-CT-LB năm 1962 về việc cấp phát vốn ngân sách cho các cơ quan, đơn vị dự toán (Cấp phát hạn mức) do Bộ tài chính - Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 3Thông tư 23-TT/LB năm 1961 quy định tạm thời chế độ cấp phát hạn mức kinh phí thuộc ngân sách Nhà nước do Ngân Hàng Nhà Nước- Bộ Tài Chính ban hành.
- 4Luật ngân sách Nhà nước 1996
Nghị định 168-CP năm 1961 điều lệ về lập và chấp hành ngân sách Nhà nước do Hội Đồng Chính Phủ ban hành.
- Số hiệu: 168-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 20/10/1961
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 43
- Ngày hiệu lực: 08/11/1961
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
