Nghị định 167/1999/NĐ-CP được ban hành bởi Chính phủ nhằm quy định chi tiết về việc tổ chức quản lý đường bộ trên phạm vi cả nước, bao gồm các nội dung cốt lõi về phân loại hệ thống đường bộ, nguồn vốn đầu tư và phân cấp thẩm quyền quản lý giữa các cơ quan trung ương và địa phương.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị định này áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, kể cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hoạt động đầu tư xây dựng, quản lý, sửa chữa, khai thác hoặc tham gia giao thông, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường bộ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hệ thống đường bộ được xác định là mạng lưới liên hoàn do Nhà nước thống nhất quản lý, không phân biệt nguồn vốn đầu tư xây dựng.
- Trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Giao thông vận tải
- Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đường bộ trong phạm vi cả nước.
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống đường bộ toàn quốc; chỉ đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng quy hoạch mạng lưới đường bộ địa phương phù hợp với quy hoạch chung.
- Xây dựng trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn và định mức kinh tế - kỹ thuật về quản lý đường bộ.
- Trình phê duyệt hoặc phê duyệt theo thẩm quyền các công trình, dự án đầu tư xây dựng đường bộ theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng.
- Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý đường bộ và chất lượng công trình đường bộ trên phạm vi toàn quốc.
- Trách nhiệm quản lý đường bộ của Ủy ban nhân dân các cấp
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đường bộ địa phương phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương và định hướng của Bộ Giao thông vận tải.
- Tổ chức quản lý, bảo vệ hệ thống đường bộ địa phương và các tuyến đường đi qua địa bàn; phối hợp với các cơ quan liên quan để thống nhất kế hoạch phát triển, cải tạo công trình ngầm tại nơi có đường bộ đi qua.
- Tuyên truyền, giáo dục và kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về đường bộ trong phạm vi địa phương.
- Chỉ đạo các tổ chức chuyên ngành quản lý nhà nước về đường bộ tại địa phương thực hiện đúng quy định pháp luật và hướng dẫn chuyên môn của Bộ Giao thông vận tải.
- Sự phối hợp của các Bộ, ngành liên quan
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Bộ Giao thông vận tải để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đường bộ.
- Phân loại hệ thống đường bộ toàn quốc
Mạng lưới đường bộ cả nước được phân chia thành 6 hệ thống cụ thể như sau:
- Hệ thống quốc lộ (QL): Là các đường trục chính của mạng lưới đường bộ toàn quốc, có vai trò đặc biệt quan trọng phục vụ lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng. Quốc lộ bao gồm đường nối Thủ đô Hà Nội với các thành phố trực thuộc Trung ương và trung tâm hành chính cấp tỉnh; đường từ trục chính đến cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính, cảng quốc gia, khu công nghiệp lớn; đường trục nối trung tâm hành chính của từ 3 tỉnh trở lên.
- Hệ thống đường tỉnh (ĐT): Là các đường trục trong địa bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nối liền tỉnh lỵ với huyện lỵ hoặc nối tỉnh lỵ với các tỉnh lân cận.
- Hệ thống đường huyện (ĐH): Là các đường nối từ huyện lỵ đến trung tâm hành chính xã hoặc cụm xã, và đường nối các huyện lỵ lân cận với nhau.
- Hệ thống đường xã (ĐX): Là các đường nối từ trung tâm hành chính xã đến các thôn, xóm hoặc đường nối giữa các xã với nhau nhằm phục vụ giao thông công cộng cấp xã.
- Hệ thống đường đô thị (ĐĐT): Là các đường giao thông nằm trong nội đô, nội thị thuộc phạm vi địa giới hành chính của thành phố, thị xã, thị trấn.
- Hệ thống đường chuyên dùng (ĐCD): Là các đường nội bộ hoặc đường chuyên phục vụ nhu cầu vận chuyển, đi lại của một hoặc nhiều cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân.
- Thẩm quyền quyết định phân loại đường bộ
- Hệ thống quốc lộ: Do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định.
- Hệ thống đường tỉnh: Do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
- Hệ thống đường đô thị: Do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
- Hệ thống đường huyện: Do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
- Hệ thống đường xã: Do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định.
- Hệ thống đường chuyên dùng: Do tổ chức, cá nhân sở hữu đường chuyên dùng quyết định sau khi có ý kiến thỏa thuận bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sở tại.
- Quy định về điều chỉnh và báo cáo: Việc điều chỉnh đường chuyên dùng thành một trong năm hệ thống đường còn lại phải tuân theo thẩm quyền tương ứng nêu trên. Sau khi quyết định phân loại đường tỉnh, đường huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Đối với đường xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi phân loại.
- Phân cấp tổ chức quản lý đường bộ
- Cơ quan quản lý ở Trung ương: Bộ Giao thông vận tải thống nhất quản lý nhà nước về đường bộ cả nước và trực tiếp quản lý hệ thống quốc lộ. Cục Đường bộ Việt Nam được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý các đoạn tuyến quốc lộ, đồng thời trình Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý một số đoạn tuyến, tuyến quốc lộ cụ thể.
- Cơ quan quản lý ở địa phương:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Quản lý hệ thống đường bộ địa phương; trực tiếp tổ chức quản lý đường tỉnh và đường đô thị. Sở Giao thông vận tải trực tiếp quản lý các đoạn quốc lộ được Bộ Giao thông vận tải ủy quyền và các tuyến đường tỉnh, đường đô thị quan trọng; trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cho cấp huyện quản lý các tuyến đường tỉnh, đường đô thị còn lại.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện: Quản lý đường bộ trong phạm vi huyện. Cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện trực tiếp quản lý đường tỉnh, đường đô thị được giao và quản lý toàn bộ hệ thống đường huyện.
- Ủy ban nhân dân cấp xã: Quản lý hệ thống đường xã trong phạm vi địa giới hành chính của xã.
- Quản lý đường chuyên dùng và dự án BOT: Tổ chức, cá nhân trước khi xây dựng đường chuyên dùng phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép và đăng ký tại Sở Giao thông vận tải sở tại. Việc đầu tư xây dựng đường bộ theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) phải thực hiện quản lý, khai thác theo đúng quy định và hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành.
- Quy định về vốn đầu tư và nguồn vốn cho đường bộ
- Cơ cấu vốn đầu tư đường bộ: Bao gồm vốn đầu tư xây dựng mới, khôi phục, cải tạo, nâng cấp đường bộ và vốn dành cho công tác quản lý, sửa chữa đường bộ. Việc quản lý nguồn vốn này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định hiện hành của Nhà nước.
- Nguồn vốn đầu tư theo phân cấp hệ thống:
- Hệ thống quốc lộ: Được bố trí từ ngân sách Trung ương và các nguồn vốn hợp pháp khác.
- Hệ thống đường tỉnh và đường huyện: Chủ yếu được bố trí từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác.
- Hệ thống đường xã: Chủ yếu huy động từ sự đóng góp tự nguyện về tài lực, công sức của nhân dân địa phương, ngân sách xã, kết hợp với một phần hỗ trợ từ ngân sách cấp trên và các nguồn khác.
- Sử dụng vốn quản lý và sửa chữa đường bộ: Được chi dùng cho các công tác quản lý và sửa chữa thường xuyên, sửa chữa định kỳ, và sửa chữa đột xuất. Bộ Giao thông vận tải chủ trì thống nhất với Bộ Tài chính để quy định chi tiết việc quản lý nguồn vốn này.
- Quy trình thông báo vốn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về nguồn vốn ngân sách Nhà nước dành cho đầu tư xây dựng mới, khôi phục, cải tạo, nâng cấp hệ thống đường bộ địa phương (đồng thời gửi Bộ Giao thông vận tải). Bộ Tài chính thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về nguồn kinh phí quản lý, sửa chữa đường địa phương (đồng thời gửi Bộ Giao thông vận tải).
- Vốn đầu tư dự án BOT và BT: Nguồn vốn đầu tư công trình đường bộ theo hình thức hợp đồng BOT và Xây dựng - Chuyển giao (BT) được thực hiện theo các quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước.
- Hiệu lực thi hành và trách nhiệm hướng dẫn
- Nghị định 167/1999/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
- Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định này.
- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh các quy định tại Nghị định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 167/1999/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 1999 |
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 167/1999/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 11 NĂM 1999 VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐƯỜNG BỘ
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước ngày 20 tháng 3 năm 1996;
Căn cứ Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông ngày 02 tháng 12 năm 1994;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
NGHỊ ĐỊNH:
1. Nghị định này quy định về phân loại đường bộ, vốn đầu tư đường bộ và phân cấp quản lý đường bộ.
2. Đường bộ nêu trong Nghị định này là kết cấu hạ tầng của giao thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của người và các loại phương tiện giao thông đường bộ.
1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống đường bộ trong cả nước phục vụ cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước; chỉ đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới đường bộ của địa phương phù hợp với quy hoạch, kế hoạch chung về phát triển mạng lưới đường bộ của cả nước;
2. Xây dựng trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn và định mức kinh tế kỹ thuật và các quy định khác về quản lý đường bộ;
3. Trình Chính phủ phê duyệt hoặc phê duyệt theo thẩm quyền những công trình, dự án đầu tư xây dựng đường bộ theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng;
4. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý đường bộ và chất lượng các công trình đường bộ trong phạm vi cả nước.
Điều 6. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý đường bộ, bao gồm các nội dung sau:
1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đường bộ của địa phương phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương và theo sự chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải về chiến lược, quy hoạch phát triển chung của mạng lưới đường bộ trong cả nước;
2. Tổ chức quản lý và bảo vệ các hệ thống đường bộ của địa phương, bảo vệ hệ thống đường bộ qua địa phương theo quy định của pháp luật; phối hợp với các cơ quan hữu quan để thống nhất xây dựng kế hoạch phát triển, cải tạo các công trình ngầm ở những nơi có đường bộ đi qua;
3. Tuyên truyền, giáo dục và kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về đường bộ trong phạm vi quản lý của địa phương;
4. Chỉ đạo các tổ chức chuyên ngành có chức năng quản lý nhà nước về đường bộ trong phạm vi địa phương theo đúng các quy định của pháp luật và hướng dẫn chuyên ngành của Bộ Giao thông vận tải.
Điều 8. Mạng lưới đường bộ được phân chia thành 6 hệ thống sau đây:
1. Hệ thống quốc lộ (ký hiệu là QL) là các đường trục chính của mạng lưới đường bộ toàn quốc có tác dụng đặc biệt quan trọng phục vụ lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước bao gồm:
a) Đường nối liền Thủ đô Hà Nội tới các thành phố trực thuộc Trung ương, tới trung tâm hành chính của các tỉnh;
b) Đường từ trục chính đến các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính (bao gồm cả cảng quốc gia), đến các khu công nghiệp lớn;
c) Đường trục nối liền trung tâm hành chính của nhiều tỉnh (từ 03 tỉnh trở lên) có ý nghĩa quan trọng về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng đối với từng vùng.
2. Hệ thống đường tỉnh (ký hiệu là ĐT) là các đường trục trong địa bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) bao gồm các đường nối từ thành phố hoặc trung tâm hành chính của tỉnh tới trung tâm hành chính của huyện và các đường trục nối trung tâm hành chính của tỉnh với trung tâm hành chính của các tỉnh lân cận.
3. Hệ thống đường huyện (ký hiệu là ĐH) là các đường nối từ trung tâm hành chính huyện tới trung tâm hành chính của xã hoặc cụm các xã của huyện và các đường nối trung tâm hành chính huyện với trung tâm hành chính của các huyện lân cận.
4. Hệ thống đường xã (ký hiệu là ĐX) là các đường nối từ trung tâm hành chính xã đến các thôn, xóm hoặc các đường nối giữa các xã với nhau nhằm phục vụ giao thông công cộng trong phạm vi xã.
5. Hệ thống đường đô thị (ký hiệu là ĐĐT) là các đường giao thông nằm trong nội đô, nội thị thuộc phạm vi địa giới hành chính của thành phố, thị xã, thị trấn.
6. Hệ thống đường chuyên dùng (ký hiệu là ĐCD) là các đường nội bộ hoặc đường chuyên phục vụ cho nhu cầu vận chuyển và đi lại của một hoặc nhiều cơ quan, doanh nghiệp, tư nhân.
Điều 9. Thẩm quyền quyết định phân loại các hệ thống đường bộ được quy định như sau:
1. Hệ thống quốc lộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định.
2. Hệ thống đường tỉnh do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là cấp tỉnh) quyết định sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
3. Hệ thống đường đô thị do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
4. Hệ thống đường huyện do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
5. Hệ thống đường xã do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định.
6. Hệ thống đường chuyên dùng do tổ chức, cá nhân có đường chuyên dùng quyết định sau khi có ý kiến thỏa thuận bằng văn bản của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh sở tại.
Việc điều chỉnh hệ thống đường chuyên dùng thành một trong 5 hệ thống đường nói trên được thực hiện theo thẩm quyền quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều này.
Sau khi quyết định phân loại hệ thống đường tỉnh, đường huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải; sau khi quyết định phân loại hệ thống đường xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
TỔ CHỨC VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ ĐƯỜNG BỘ
Điều 10. Cơ quan quản lý đường bộ ở Trung ương
Bộ Giao thông vận tải thống nhất quản lý nhà nước về đường bộ trong phạm vi cả nước; trực tiếp quản lý hệ thống quốc lộ. Cục Đường bộ Việt Nam được Bộ Giao thông vận tải giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý các đoạn tuyến quốc lộ; trình Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải giao cho các Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý một số đoạn tuyến, tuyến quốc lộ.
Điều 11. Cơ quan quản lý đường bộ ở địa phương
1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý các hệ thống đường bộ địa phương theo quy định của pháp luật; trực tiếp tổ chức quản lý các hệ thống đường tỉnh, đường đô thị. Sở Giao thông vận tải trực tiếp quản lý các đoạn tuyến quốc lộ mà Bộ Giao thông vận tải đã giao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và các tuyến (hoặc đoạn) đường đô thị, đường tỉnh quan trọng; trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao cho các huyện quản lý số đường tỉnh, đường đô thị còn lại.
2. Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý đối với đường trong phạm vi huyện. Cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp huyện được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý các đường tỉnh và đường đô thị được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao; quản lý hệ thống đường huyện.
3. Uỷ ban nhân dân xã quản lý đường xã trong phạm vi xã.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phép đầu tư xây dựng đường bộ theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) tổ chức quản lý, khai thác đường theo quy định và hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành.
Điều 13. Vốn đầu tư đường bộ gồm:
Vốn đầu tư xây dựng mới, khôi phục, cải tạo và nâng cấp đường bộ;
Vốn quản lý và sửa chữa đường bộ.
Việc quản lý vốn đầu tư đường bộ thực hiện theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 14. Nguồn vốn để đầu tư đường bộ
1. Vốn đầu tư đường bộ đối với hệ thống quốc lộ được bố trí từ ngân sách Trung ương và từ các nguồn vốn khác.
2. Vốn đầu tư đường bộ đối với hệ thống đường tỉnh, đường huyện chủ yếu bố trí từ nguồn vốn của ngân sách địa phương và từ các nguồn vốn khác.
3. Vốn đầu tư đường bộ đối với hệ thống đường xã chủ yếu huy động từ sự đóng góp tài, lực của nhân dân địa phương, của ngân sách xã và một phần hỗ trợ của ngân sách cấp trên và từ các nguồn vốn khác.
Điều 15. Vốn cho quản lý và sửa chữa đường bộ được sử dụng vào các công việc sau đây:
1. Quản lý và sửa chữa thường xuyên;
2. Sửa chữa định kỳ;
3. Sửa chữa đột xuất.
Bộ Giao thông vận tải thống nhất với Bộ Tài chính để quy định cụ thể việc quản lý vốn đầu tư cho công tác quản lý và sửa chữa đường bộ trên cơ sở các quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 19. Nghị định có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
Nghị định 167/1999/NĐ-CP về việc tổ chức quản lý đường bộ
- Số hiệu: 167/1999/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 26/11/1999
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 1
- Ngày hiệu lực: 11/12/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
