Nghị định số 157-HĐBT ban hành năm 1985 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của các Ban thanh tra nhân dân, nhằm phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và tăng cường hiệu quả giám sát tại cơ sở.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với việc thành lập và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân tại các cấp chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn), các cơ sở sự nghiệp (bệnh viện, trường học, trạm nghiên cứu, viện nghiên cứu, cơ sở điều dưỡng), các cơ quan hành chính từ cấp huyện trở lên, và các cơ sở sản xuất kinh doanh (nhà máy, hầm mỏ, công trường, nông lâm trường, công ty, xí nghiệp). Đối với các liên hiệp sản xuất kinh doanh lớn, Ủy ban Thanh tra cấp tỉnh, thành phố hoặc đặc khu trực thuộc Trung ương sẽ xem xét quyết định việc tổ chức Ban Thanh tra nhân dân toàn liên hiệp và các Ban trực thuộc.
Cơ cấu tổ chức, thành viên và nhiệm kỳ
- Tại xã, phường, thị trấn: Ban Thanh tra nhân dân gồm từ 7 đến 11 thành viên. Danh sách thành viên do Chủ tịch Ủy ban nhân dân phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đề cử, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua tại phiên họp đầu tiên của nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ của Ban là 2 năm. Các thành viên Ủy ban nhân dân, Trưởng/Phó công an xã và xã đội không được tham gia Ban Thanh tra nhân dân.
- Tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, sự nghiệp, hành chính: Ban gồm từ 5 đến 9 thành viên, do Hội nghị công nhân viên chức bầu trực tiếp bằng hình thức bỏ phiếu kín với nhiệm kỳ 2 năm. Cán bộ giữ chức vụ phụ trách đơn vị cơ sở không được tham gia Ban.
- Tại các tổ chức Liên hiệp: Ban gồm từ 7 đến 11 thành viên, do Hội nghị đại biểu Ban Thanh tra nhân dân ở các đơn vị trực thuộc và đại biểu các đoàn thể bầu ra với nhiệm kỳ 2 năm. Ban này phải được cơ quan Thanh tra cấp trên trực tiếp công nhận.
Nhiệm vụ của Ban Thanh tra nhân dân
- Giám sát và thanh tra thường xuyên: Thực hiện giám sát tại chỗ việc thực hiện kế hoạch Nhà nước, chấp hành chính sách, chế độ, nội quy của đơn vị; đấu tranh chống tiêu cực nhằm bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, cải tiến quản lý, tăng cường đoàn kết nội bộ và chăm lo đời sống nhân dân, người lao động.
- Nội dung giám sát trọng tâm: Tập trung vào việc thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân hoặc Hội nghị công nhân viên chức; thực hiện các quy định về bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, chống tiêu cực; bảo đảm quyền làm chủ tập thể của người lao động và thực hiện các chế độ, chính sách đời sống.
- Tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo: Đóng góp ý kiến với Ủy ban nhân dân hoặc thủ trưởng đơn vị trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của quần chúng; tìm hiểu nguyên nhân phát sinh đơn thư và đề xuất biện pháp khắc phục tình trạng chậm trễ giải quyết.
- Đôn đốc và báo cáo: Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị sau thanh tra của cơ quan thanh tra cấp trên; định kỳ báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân hoặc Hội nghị công nhân viên chức; báo cáo lên cơ quan thanh tra cấp trên các vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của cơ sở.
Quyền hạn của Ban Thanh tra nhân dân
- Kiến nghị và xử lý: Phát hiện gương tốt để kiến nghị biểu dương; nhắc nhở, đấu tranh ngăn ngừa sai phạm. Trường hợp phát hiện vi phạm nghiêm trọng, Ban có quyền lập biên bản và báo cáo thủ trưởng đơn vị xử lý.
- Yêu cầu cung cấp thông tin: Yêu cầu cán bộ, nhân viên và những người có trách nhiệm liên quan cung cấp tài liệu, tình hình cần thiết phục vụ cho công tác thanh tra.
- Xác minh trực tiếp: Gặp gỡ trực tiếp cá nhân hoặc tập thể quần chúng trong đơn vị để trao đổi, làm rõ nội dung thanh tra.
- Kết luận và đề xuất: Đưa ra kết luận rõ ràng về đúng, sai; phân tích nguyên nhân, xác định trách nhiệm và kiến nghị các biện pháp khắc phục, sửa chữa khuyết điểm hoặc đề xuất hình thức khen thưởng, kỷ luật phù hợp.
Nguyên tắc hoạt động và mối quan hệ công tác
- Chế độ báo cáo: Ban Thanh tra nhân dân phải báo cáo kết luận, kiến nghị với Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã/phường hoặc thủ trưởng đơn vị cơ sở để giải quyết. Nếu không thống nhất với hướng giải quyết, Ban có quyền báo cáo lên cơ quan thanh tra cấp trên trực tiếp xem xét.
- Sự lãnh đạo và chỉ đạo: Ban chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy cơ sở và sự chỉ đạo nghiệp vụ của cơ quan thanh tra cấp trên trực tiếp. Các Ban thuộc cơ sở liên hợp lớn hoặc đơn vị có Đảng bộ trực thuộc cấp tỉnh/thành phố/đặc khu sẽ chịu sự chỉ đạo của Ủy ban Thanh tra cấp tỉnh, thành phố, đặc khu.
- Trách nhiệm của cơ quan thanh tra cấp tỉnh, huyện: Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức và hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân theo đúng quy định; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể (công đoàn, thanh niên, phụ nữ) trong việc đề cử nhân sự và thúc đẩy chương trình hoạt động.
- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân và thủ trưởng cơ sở: Thông báo cho Ban Thanh tra nhân dân về các chủ trương công tác, tình hình thực hiện kế hoạch, chính sách; tạo điều kiện thuận lợi về địa điểm làm việc, kinh phí, phương tiện thông tin; chỉ đạo các bộ phận liên quan cung cấp tài liệu kịp thời và giải quyết nhanh chóng các kiến nghị của Ban.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
- Trách nhiệm hướng dẫn: Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện Nghị định này.
- Trách nhiệm thi hành: Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định của Nghị định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 157-HĐBT | Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 1985 |
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981;
Căn cứ Nghị quyết số 26-HĐBT ngày 15-2-1984 của Hội đồng Bộ trưởng về tăng cường tổ chức thanh tra và nâng cao hiệu lực thanh tra;
Xét đề nghị của Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra Nhà nước,
NGHỊ ĐỊNH :
TỔ CHỨC BAN THANH TRA NHÂN DÂN
- Các cấp chính quyền cơ sở xã, phường, thị trấn.
- Các cơ sở sự nghiệp (bệnh viện, trường học, trạm thí nghiệm, trạm hoặc Viện nghiên cứu khoa học, các trạm điều dưỡng, an dưỡng) và các cơ quan hành chính từ cấp huyện trở lên.
- Các cơ sở sản xuất kinh doanh (nhà máy, hầm mỏ, công trường, bến cảng, đoàn hoặc xí nghiệp vận tải, nông trường, lâm trường, tổng kho, Công ty, cửa hàng). Các cơ sở sản xuất, kinh doanh liên hợp lớn có nhiều đơn vị trực thuộc thì Uỷ ban Thanh tra tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương xét, quyết định việc tổ chức Ban Thanh tra nhân dân của toàn liên hiệp, dưới đó có các Ban Thanh tra nhân dân của các đơn vị trực thuộc.
Các thành viên Uỷ ban nhân dân, Trưởng, Phó công an xã, xã đội không tham gia Ban Thanh tra nhân dân.
Các cán bộ giữ cương vị phụ trách đơn vị cơ sở không tham gia Ban Thanh tra nhân dân.
Ban Thanh tra nhân dân ở các tổ chức Liên hiệp có từ 7 đến 11 thành viên do Hội nghị đại biểu Ban Thanh tra nhân dân ở các đơn vị trực thuộc và đại biểu các đoàn thể ở cơ sở liên hiệp bầu ra, với nhiệm kỳ 2 năm.
Các Ban Thanh tra nhân dân nói trên phải được cơ quan Thanh tra cấp trên trực tiếp công nhận.
NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA BAN THANH TRA NHÂN DÂN
Điều 4. Ban Thanh tra nhân dân có nhiệm vụ:
a) Giám sát, thanh tra thường xuyên tại chỗ việc thực hiện kế hoạch Nhà nước và việc chấp hành các chính sách, chế độ ở đơn vị, gắn liền với đấu tranh chống tiêu cực, nhằm bảo vệ chính sách, pháp luật, và tài sản xã hội chủ nghĩa, cải tiến công tác quản lý, tăng cường đoàn kết trong đơn vị, chăm lo đời sống cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân, thúc đẩy việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Tuỳ từng thời gian, tập trung vào những vấn đề quan trọng cấp thiết theo các nội dung sau:
- Việc thực hiện các kế hoạch sản xuất, kinh doanh, công tác của đơn vị, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Ban Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn), Nghị quyết Hội nghị công nhân, viên chức (Ban Thanh tra nhân dân cơ sở sản xuất, kinh doanh, hành chính, sự nghiệp).
- Việc thực hiện Nghị quyết số 03 ngày 25-10-1982 của Bộ Chính trị, Nghị định số 217-CP ngày 8-6-1979 về 4 chế độ công tác, các quyết định khác về bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, chống các biểu hiện tiêu cực.
- Việc bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, và các chế độ, nội quy của ngành, đơn vị.
- Việc tổ chức và giải quyết đời sống cho cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân, theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn mà Nhà nước quy định.
b) Tham gia ý kiến với Uỷ ban nhân dân hoặc thủ trưởng đơn vị cơ sở trong việc xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân thuộc trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị. Tìm hiểu, phát hiện nguyên nhân phát sinh đơn khiếu tố, tình trạng chậm trễ trong việc giải quyết khiếu tố, chủ động đề xuất biện pháp giải quyết tình hình đó.
c) Đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị mà cơ quan thanh tra đã đề ra với đơn vị sau các cuộc thanh tra, kịp thời báo cáo với Đảng uỷ cơ sở, cơ quan quản lý và cơ quan thanh tra cấp trên hoặc Ban Thanh tra ngành về việc thực hiện các kiến nghị đó.
d) Thường kỳ báo cáo công tác của thanh tra nhân dân với Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc hội nghị công nhân, viên chức của đơn vị.
e) Qua công tác thanh tra, phát hiện vấn đề không thuộc phạm vi quyền hạn của địa phương hoặc đơn vị mình giải quyết thì báo cáo với cơ quan thanh tra cấp trên để xem xét, giải quyết.
Điều 5. Ban Thanh tra nhân dân có các quyền hạn sau:
1. Phát hiện việc làm tốt, người tốt để kiến nghị biểu dương, việc làm sai, người làm sai để nhắc nhở, đấu tranh ngăn ngừa. Trường hợp xét thấy việc vi phạm là nghiêm trọng thì Ban Thanh tra nhân dân lập biên bản và báo cáo với thủ trưởng đơn vị xử lý.
2. Ban Thanh tra nhân dân có quyền:
a) Yêu cầu cán bộ, nhân viên, những người có trách nhiệm ở địa phương, ở các bộ phận trong đơn vị cung cấp tài liệu, tình hình cần thiết có liên quan đến vấn đề thanh tra.
b) Gặp gỡ trực tiếp cá nhân hoặc tập thể quần chúng trong đơn vị để trao đổi về yêu cầu và nội dung thanh tra.
c) Kết luận rõ đúng sai, phân tích nguyên nhân, quy trách nhiệm, kiến nghị các biện pháp phát huy ưu điểm, ngăn ngừa sửa chữa khuyết điểm, các hình thức khen thưởng, kỷ luật.
SỰ CHỈ ĐẠO ĐỐI VỚI BAN THANH TRA NHÂN DÂN
Uỷ ban Thanh tra tỉnh, thành phố, đặc khu, Ban thanh tra huyện, quận có trách nhiệm:
- Chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức các Ban thanh tra nhân dân đúng với các quy định của Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 20-2-1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nghị quyết số 26-HĐBT ngày 15-2-1984 của Hội đồng Bộ trưởng và Nghị định này.
- Chỉ đạo các Ban thanh tra nhân dân hoạt động đúng với chức năng, nhiệm vụ đã quy định, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị.
- Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho các Ban thanh tra nhân dân.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thủ trưởng đơn vị cơ sở có trách nhiệm:
a) Thông báo cho Ban thanh tra nhân dân các chủ trương công tác, tình hình chấp hành chính sách, chế độ, việc thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh của địa phương, đơn vị; đề xuất những yêu cầu thanh tra với Ban thanh tra nhân dân.
b) Tạo điều kiện cần thiết cho Ban thanh tra nhân dân hoạt động, như:
- Phổ biến nhiệm vụ chính trị, những chủ trương, chính sách, chế độ, thể lệ... có liên quan đến công tác thanh tra.
- Giúp các phương tiện thông tin, giấy bút, chỗ làm việc, kinh phí hoạt động.
- Chỉ thị cho các bộ môn có liên quan cung cấp đầy đủ, kịp thời tình hình và tài liệu phục vụ cho yêu cầu thanh tra.
c) Giải quyết đúng đắn và kịp thời những kiến nghị của Ban thanh tra nhân dân.
| Tố Hữu (Đã ký) |
- 1Quyết định 207-HĐBT năm 1991 huỷ bỏ các văn bản pháp luật do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2Nghị định 241-HĐBT năm 1991 quy định về tổ chức và hoạt động của các ban thanh tra nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Nghị định 217-CP năm 1979 về chế độ trách nhiệm, chế độ kỷ luật, chế độ bảo vệ của công và chế độ phục vụ nhân dân của cán bộ, nhân viên và cơ quan Nhà nước do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 4Luật Thanh tra 2004
- 1Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 2Nghị định 217-CP năm 1979 về chế độ trách nhiệm, chế độ kỷ luật, chế độ bảo vệ của công và chế độ phục vụ nhân dân của cán bộ, nhân viên và cơ quan Nhà nước do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 3Nghị quyết số 26-HĐBT về việc tăng cường tổ chức thanh tra và nâng cao hiệu lực thanh tra do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4Luật Thanh tra 2004
Nghị định 157-HĐBT năm 1985 tổ chức và hoạt động của các Ban thanh tra nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 157-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 01/06/1985
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Tố Hữu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/06/1985
- Ngày hết hiệu lực: 04/07/1991
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
