Năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 127-HĐBT quy định về chế độ Ủy viên kiêm chức thuộc tổ chức thanh tra các cấp. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm tăng cường sự phối hợp liên ngành, phát huy vai trò giám sát của các tổ chức đoàn thể và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thanh tra nhà nước từ trung ương đến địa phương thông qua việc bổ sung các thành viên kiêm nhiệm từ các cơ quan chuyên môn và tổ chức chính trị - xã hội.
Phạm vi áp dụng của Nghị định bao gồm Ủy ban Thanh tra Nhà nước, Ủy ban Thanh tra cấp tỉnh (tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương), và Ban Thanh tra cấp huyện (huyện và cấp tương đương). Đối tượng áp dụng trực tiếp là các cán bộ giữ chức vụ cấp phó tại các bộ, ngành, sở, ban ngành và các tổ chức đoàn thể được cử làm Ủy viên kiêm chức tại các cơ quan thanh tra đồng cấp.
Cơ cấu thành phần Ủy viên kiêm chức tại các cấp thanh tra
Nghị định quy định cụ thể về việc bổ sung các Ủy viên kiêm chức bên cạnh bộ khung chuyên trách (gồm Chủ nhiệm, các Phó chủ nhiệm và các Ủy viên chuyên trách) tại từng cấp thanh tra như sau:
- Tại Ủy ban Thanh tra Nhà nước: Các Ủy viên kiêm chức là cấp phó của các cơ quan, bộ, ngành và đoàn thể trung ương bao gồm: Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Vật giá Nhà nước, Tổng Công đoàn Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Tại Ủy ban Thanh tra cấp tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương: Các Ủy viên kiêm chức là cấp phó của các sở, ngành và đoàn thể cấp tỉnh bao gồm: Ủy ban Kế hoạch tỉnh, Sở Tài chính, Sở Lao động, Ngân hàng, Ủy ban Vật giá, Liên hiệp Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, và Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp tỉnh.
- Tại Ban Thanh tra cấp huyện và cấp tương đương: Các Ủy viên kiêm chức là cấp phó của các tổ chức đoàn thể cấp huyện bao gồm: Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, và Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp huyện.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy viên kiêm chức
Các Ủy viên kiêm chức được trao các quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể nhằm bảo đảm vai trò cầu nối giữa cơ quan thanh tra và ngành, đoàn thể mà họ đại diện:
- Tham gia quyết định các vấn đề cốt lõi: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của ngành, đoàn thể mình và ý kiến, nguyện vọng của quần chúng nhân dân để đề xuất, thảo luận và tham gia quyết định về phương hướng, nhiệm vụ, chương trình hoạt động thanh tra; báo cáo xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân định kỳ hàng quý; sơ kết, tổng kết công tác thanh tra định kỳ (3 tháng, 6 tháng, 1 năm); các báo cáo chuyên đề, báo cáo kết luận thanh tra hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo quan trọng để trình lên các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
- Tổ chức thực hiện tại đơn vị: Chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện trong nội bộ ngành, đoàn thể mình các nội dung liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra thuộc phạm vi trách nhiệm của ngành hoặc đoàn thể đó.
- Trực tiếp tham gia thanh tra: Tham gia vào các hoạt động, đoàn thanh tra có nội dung liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của ngành, đoàn thể mình.
- Quyền tiếp cận thông tin: Được cung cấp đầy đủ các tài liệu, thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động của cơ quan thanh tra cùng cấp để phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ kiêm chức.
Thẩm quyền bổ nhiệm Ủy viên kiêm chức
Quy trình và thẩm quyền bổ nhiệm các Ủy viên kiêm chức được phân cấp rõ ràng theo từng cấp quản lý hành chính:
- Cấp Trung ương: Các Ủy viên kiêm chức tại Ủy ban Thanh tra Nhà nước do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định bổ nhiệm dựa trên đề nghị của Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước.
- Cấp tỉnh: Các Ủy viên kiêm chức tại Ủy ban Thanh tra tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định bổ nhiệm sau khi có sự thỏa thuận, thống nhất với Ủy ban Thanh tra Nhà nước.
- Cấp huyện: Các Ủy viên kiêm chức tại Ban Thanh tra huyện và cấp tương đương do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện quyết định bổ nhiệm sau khi có sự thỏa thuận, thống nhất với Ủy ban Thanh tra cấp tỉnh.
Trách nhiệm thi hành và hiệu lực pháp luật
Nghị định giao trách nhiệm tổ chức thi hành trực tiếp cho Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước, Thủ trưởng các bộ, ngành có liên quan và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành và được ký thay mặt Hội đồng Bộ trưởng bởi Phó Chủ tịch Võ Chí Công.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 127-HĐBT | Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 1986 |
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Xét đề nghị của Uỷ ban Thanh tra Nhà nước
NGHỊ ĐỊNH :
Uỷ ban Thanh tra Nhà nước có các Uỷ viên kiêm chức là cấp phó của các Bộ, ngành và đoàn thể sau đây: Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Tổng Công đoàn Việt Nam, Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Uỷ ban Thanh tra tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương có các Uỷ viêm kiêm chức là cấp phó của các Sở, ngành và đoàn thể sau đây: Uỷ ban Kế hoạch tỉnh, Sở Tài chính, Sở Lao động, Ngân hàng, Uỷ ban Vật giá, Liên hiệp công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ.
Ban Thanh tra huyện và cấp tương đương có các Uỷ viêm kiêm chức là cấp phó của các đoàn thể sau đây: Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp phụ nữ.
a) Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của ngành, đoàn thể và ý kiến nguyện vọng của quần chúng, đề xuất ý kiến, thảo luận và tham gia quyết định:
- Phương hướng, nhiệm vụ và chương trình hoạt động thanh tra.
- Báo cáo việc xét các khiếu nại, tố cáo của công dân hàng quý; sơ kết, tổng kết công tác thanh tra 3 tháng, 6 tháng, 1 năm.
- Báo cáo chuyên đề, báo cáo kết luận của các cuộc thanh tra hoặc xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo quan trọng cần trình lên các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
b) Tổ chức thực hiện trong ngành, đoàn thể mình những vấn đề thuộc về tổ chức và hoạt động thanh tra có liên quan đến trách nhiệm của ngành, hoặc đoàn thể mình.
c) Tham gia vào các hoạt động thanh tra có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của ngành, đoàn thể mình.
d) Được cung cấp những tài liệu cần thiết về hoạt động của cơ quan thanh tra cấp mình.
Các Uỷ viêm kiêm chức ở Uỷ ban thanh tra tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương do Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương ra quyết định bổ nhiệm sau khi có sự thoả thuận của Uỷ ban Thanh tra Nhà nước.
Các Uỷ viêm kiêm chức của Ban thanh tra huyện và cấp tương đương do Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân huyện hoặc cấp tương đương ra quyết định bổ nhiệm sau khi có sự thoả thuận với Uỷ ban Thanh tra tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương.
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
Nghị định 127-HĐBT năm 1986 về chế độ Uỷ viên kiêm chức thuộc tổ chức thanh tra các cấp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 127-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 16/10/1986
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 31/10/1986
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
