Nghị định số 03/2002/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết về các biện pháp và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí tại Việt Nam, nhằm bảo đảm an toàn cho người, tài sản, công trình và môi trường trong quá trình khai thác nguồn tài nguyên quốc gia.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các hoạt động dầu khí bao gồm tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ, khai thác, vận chuyển, tàng trữ, chế biến, dịch vụ kỹ thuật và nghiên cứu khoa học. Các hoạt động này được tiến hành trên đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, liên quan đến các công trình, phương tiện thiết bị dầu khí của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam và các đối tác liên doanh.
Công tác bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí được xác định là nghĩa vụ và trách nhiệm chung của mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dầu khí, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang và toàn thể công dân. Mọi hành vi vi phạm đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. Khi phát hiện dấu hiệu sự cố hoặc hành vi xâm phạm, mọi tổ chức, cá nhân phải tìm cách ngăn chặn và báo ngay cho cơ quan công an, quân đội, chính quyền địa phương hoặc cơ quan gần nhất.
Các khái niệm cốt lõi về an ninh và an toàn dầu khí
- Bảo vệ an ninh dầu khí: Là việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại hoặc làm phương hại đến việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển ngành dầu khí; bảo vệ an ninh nội bộ, bảo vệ bí mật Nhà nước và an toàn cho các hoạt động, công trình, phương tiện dầu khí.
- Bảo vệ an toàn dầu khí: Là việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm quy định về phòng chống cháy nổ, tai nạn, sự cố kỹ thuật nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản, phương tiện và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Công trình, phương tiện, thiết bị dầu khí: Bao gồm giàn khoan, đường ống dẫn, kho chứa, nhà máy, bến cảng và các trang thiết bị phụ trợ khác phục vụ cho hoạt động dầu khí, kể cả các công trình hợp tác quốc tế nằm ngoài vùng tài phán của Việt Nam.
Nhiệm vụ bảo vệ an ninh và xây dựng phương án phòng ngừa
Nhiệm vụ bảo vệ an ninh dầu khí tập trung vào việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi nguy hại sau:
- Lợi dụng hoạt động dầu khí để xâm phạm an ninh quốc gia, chủ quyền và quyền chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.
- Phá hoại trực tiếp hoặc gián tiếp các cơ quan, doanh nghiệp, công trình và thiết bị dầu khí.
- Xâm phạm hoạt động dầu khí, gây thiệt hại tài sản của Nhà nước và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
- Tiết lộ hoặc vi phạm các quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước trong ngành dầu khí.
- Làm phương hại đến việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật phát triển ngành dầu khí.
Trước khi triển khai bất kỳ hoạt động dầu khí nào tại Việt Nam, các tổ chức, cá nhân bắt buộc phải xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ chi tiết theo hướng dẫn của Bộ Công an, đồng thời gửi phương án này cho Tổng công ty Dầu khí Việt Nam để phối hợp triển khai.
Quản lý nhân sự và yếu tố nước ngoài trong hoạt động dầu khí
- Tuyển dụng lao động: Việc tuyển dụng lao động tại Tổng công ty Dầu khí Việt Nam phải tuân thủ pháp luật lao động. Đối với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, hồ sơ tuyển dụng bắt buộc phải có lý lịch tư pháp và họ phải hoạt động đúng mục đích nhập cảnh.
- Trách nhiệm của nhà thầu nước ngoài: Các nhà thầu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi tuyển dụng lao động Việt Nam phải báo cáo và gửi bản sao hợp đồng lao động cho Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Khi cử lao động Việt Nam đi nước ngoài công tác hoặc học tập, phải thông báo rõ danh sách và chương trình làm việc.
- Chấm dứt hợp đồng lao động: Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật Việt Nam. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam có quyền yêu cầu nhà thầu nước ngoài chấm dứt hợp đồng lao động đối với những cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam.
Bảo mật thông tin và an toàn mạng máy tính
- Mọi thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước trong ngành dầu khí khi truyền tải qua các phương tiện thông tin liên lạc vô tuyến, hữu tuyến hoặc kỹ thuật khác phải được mã hóa theo quy định của ngành cơ yếu. Nghiêm cấm việc trao đổi hoặc công bố các thông tin mật này trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Các tổ chức, cá nhân sử dụng mạng Internet phục vụ hoạt động dầu khí phải chấp hành nghiêm quy định quản lý của Nhà nước, tự chịu trách nhiệm về nội dung thông tin truyền tải và có trách nhiệm báo cáo ngay cho cơ quan chức năng khi phát hiện các nguồn thông tin bất hợp pháp hoặc hành vi phá hoại an ninh mạng.
Hệ thống quản lý an toàn và ứng cứu khẩn cấp
Các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí có trách nhiệm thiết lập và duy trì hệ thống quản lý an toàn nghiêm ngặt từ khâu thiết kế, xây dựng, vận hành cho đến khi hủy bỏ công trình. Các yêu cầu cụ thể bao gồm:
- Xây dựng hệ thống ứng cứu khẩn cấp, lập kế hoạch ứng phó sự cố cháy nổ, tai nạn thiên tai phù hợp với hệ thống ứng cứu quốc gia, tổ chức diễn tập định kỳ.
- Thực hiện đầy đủ các cam kết bảo vệ môi trường, chủ động ngăn ngừa và khắc phục triệt để các sự cố ô nhiễm môi trường.
- Đào tạo, huấn luyện kỹ năng an toàn lao động và trang bị đầy đủ bảo hộ lao động cho nhân viên. Người lao động và khách tham quan phải tuân thủ tuyệt đối các nội quy an toàn, phòng cháy chữa cháy tại cơ sở.
- Duy trì lực lượng bảo vệ và lực lượng an toàn chuyên trách có đủ năng lực, phẩm chất và trang thiết bị để xử lý kịp thời các tình huống phát sinh.
Quy định về hành lang và vùng an toàn dầu khí
- Công trình trên đất liền: Phải thiết lập hành lang an toàn rõ ràng và thông báo công khai. Trong phạm vi hành lang này, nghiêm cấm xây dựng công trình, trồng cây lâu năm, sử dụng lửa trần hoặc các thiết bị phát nhiệt có nguy cơ gây cháy nổ. Việc sử dụng hành lang an toàn cho mục đích quốc phòng, an ninh phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Công trình trên biển: Vùng an toàn được xác định là 500 mét tính từ rìa ngoài cùng của công trình hoặc từ vị trí thả neo của các phương tiện nổi. Nghiêm cấm các phương tiện không có nhiệm vụ xâm nhập vào vùng an toàn này. Trong phạm vi 2 hải lý tính từ rìa ngoài công trình, các tàu thuyền không được phép thả neo. Tọa độ vùng an toàn sẽ do cơ quan bảo đảm hàng hải công bố công khai.
Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước và phối hợp lực lượng
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí, phân công trách nhiệm cụ thể cho các Bộ, ngành:
- Bộ Công an: Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành, chỉ đạo lực lượng công an phối hợp với Tổng công ty Dầu khí Việt Nam phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm; hướng dẫn công tác phòng cháy chữa cháy và xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc tại các cơ sở dầu khí.
- Bộ Quốc phòng: Chỉ đạo các lực lượng tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên biển và đất liền; phối hợp xây dựng phương án bảo vệ các công trình dầu khí trọng điểm trên biển; tham gia tìm kiếm cứu nạn và khắc phục sự cố môi trường.
- Bộ Thủy sản và Ủy ban nhân dân các tỉnh ven biển: Tuyên truyền, giáo dục ngư dân không vi phạm vùng an toàn của các công trình dầu khí biển.
- Các Bộ ngành liên quan (Giao thông vận tải, Khoa học Công nghệ và Môi trường, Y tế, Lao động - Thương binh và Xã hội...): Xây dựng phương án sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện phối hợp ứng cứu khi xảy ra sự cố nghiêm trọng.
- Tổng công ty Dầu khí Việt Nam: Chịu trách nhiệm xây dựng phong trào bảo vệ an ninh nội bộ, bảo vệ tài sản nhà nước; thành lập lực lượng bảo vệ chuyên trách; chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành tổng kết, rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ.
- Cơ quan thông tin, báo chí: Tuyên truyền, giáo dục việc chấp hành các quy định về bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí.
Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc thanh tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động dầu khí nhằm bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật. Các đối tượng hoạt động dầu khí có nghĩa vụ chấp hành sự thanh tra này.
Nghị định quy định rõ chế độ khen thưởng và xử phạt:
- Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ an ninh, an toàn hoặc ngăn chặn sự cố sẽ được khen thưởng theo quy định.
- Mọi hành vi vi phạm tùy theo tính chất và mức độ sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 03/2002/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 03/2002/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 07 tháng 1 năm 2002 |
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ SỐ 03/2002/NĐ-CP NGÀY 07THÁNG 01 NĂM 2002 VỀ BẢO VỆ AN NINH, AN TOÀN DẦU KHÍ
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Dầu khí ngày 06 tháng 7 năm 1993 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí ngày 09 tháng 6 năm 2000;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an,
NGHỊ ĐỊNH :
2. Mọi hành vi vi phạm Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến an ninh, an toàn dầu khí đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
2. Các cơ quan và tổ chức nêu ở khoản 1 Điều này khi nhận được thông tin liên quan đến mất an ninh, an toàn dầu khí phải có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị chức năng để kịp thời xử lý và ngăn ngừa thiệt hại.
Điều 5. Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau :
1. "Bảo vệ an ninh dầu khí" là việc tiến hành các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm hoặc làm phương hại đến việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển ngành dầu khí Việt Nam; bảo vệ an ninh nội bộ cơ quan, doanh nghiệp dầu khí; bảo vệ bí mật Nhà nước; bảo vệ các hoạt động dầu khí, công trình, phương tiện, thiết bị dầu khí.
2. "Bảo vệ an toàn dầu khí" là việc tiến hành các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm quy định về phòng chống cháy nổ, tai nạn, sự cố kỹ thuật, nhằm bảo đảm an toàn cho người, công trình, phương tiện, thiết bị và hoạt động dầu khí, bảo vệ môi trường sinh thái.
3. "Công trình, phương tiện, thiết bị dầu khí" là dàn khoan, đường ống, kho chứa, nhà máy, bến cảng và các công trình, phương tiện, thiết bị khác phục vụ cho hoạt động dầu khí, kể cả công trình, phương tiện, thiết bị phục vụ cho hoạt động dầu khí trên cơ sở hợp tác với nước ngoài tại các vùng không thuộc quyền tài phán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1. Lợi dụng hoạt động dầu khí để xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Gián tiếp hoặc trực tiếp phá hoại cơ quan, doanh nghiệp dầu khí, các công trình, phương tiện, thiết bị dầu khí.
3. Xâm phạm các hoạt động dầu khí, gây thiệt hại tài sản Nhà nước, lợi ích quốc gia và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí.
4. Vi phạm bí mật Nhà nước trong hoạt động dầu khí.
5. Làm phương hại đến việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật phát triển ngành dầu khí.
Đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trong hồ sơ tuyển dụng phải có lý lịch tư pháp. Sau khi được tuyển dụng, những cá nhân này phải hoạt động đúng mục đích nhập cảnh.
2. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chức năng của Nhà nước trong việc quản lý hoạt động của người lao động nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc cho nhà thầu, văn phòng đại diện, doanh nghiệp dầu khí tại Việt Nam.
2. Nhà thầu dầu khí nước ngoài, doanh nghiệp dầu khí có vốn đầu tư nước ngoài khi cử lao động là người Việt Nam đi công tác, học tập ở nước ngoài phải thông báo cho Tổng công ty Dầu khí Việt Nam về danh sách đoàn đi, chương trình công tác, học tập.
2. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam được phép yêu cầu các nhà thầu nước ngoài, các doanh nghiệp dầu khí có vốn đầu tư nước ngoài chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động khi phát hiện có chứng cứ vi phạm pháp luật Việt Nam.
Nghiêm cấm việc trao đổi hoặc đưa thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước trong ngành dầu khí trên các phương tiện thông tin đại chúng.
1. Chấp hành đúng quy định của Nhà nước về thiết lập, quản lý, sử dụng mạng Internet;
2. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin được đưa vào, truyền đi từ hệ thống máy tính của mình;
3. Khi phát hiện các nguồn thông tin bất hợp pháp xâm nhập vào Việt Nam hoặc phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong việc sử dụng Internet, phải báo ngay cho cơ quan chức năng Nhà nước để xử lý.
Điều 14. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí tại Việt Nam có trách nhiệm:
1. Thiết lập, duy trì hệ thống quản lý công tác an toàn, bảo đảm kiểm soát hiệu quả các rủi ro trong suốt quá trình hoạt động từ khâu thiết kế, xây dựng, chạy thử, vận hành, khai thác và hủy bỏ công trình;
2. Thiết lập, duy trì hệ thống ứng cứu khẩn cấp và áp dụng các biện pháp ứng cứu cần thiết khi xảy ra cháy nổ, tai nạn, sự cố;
3. Lập kế hoạch ứng cứu khẩn cấp, phù hợp với hệ thống ứng cứu khẩn cấp quốc gia, tổ chức luyện tập thường xuyên và diễn tập định kỳ theo kế hoạch;
4. Thực hiện đầy đủ các kế hoạch về bảo vệ môi trường và các biện pháp để ngăn ngừa ô nhiễm và khắc phục hậu quả do sự cố ô nhiễm môi trường gây ra.
2. Trong quá trình làm việc, người lao động phải tuân thủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường lao động; bảo vệ sức khoẻ, tính mạng và bảo vệ an toàn cho công trình, phương tiện, thiết bị dầu khí.
3. Khách đến làm việc, tham quan tại các cơ quan, doanh nghiệp dầu khí phải chấp hành nghiêm chỉnh các nội quy, quy định ra vào, làm việc, tham quan theo yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan, doanh nghiệp dầu khí, nhằm bảo vệ an ninh, an toàn cho các hoạt động dầu khí, công trình, phương tiện, thiết bị dầu khí.
2. Lực lượng bảo vệ và lực lượng an toàn phải có đủ điều kiện về phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và được trang bị phương tiện cần thiết, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí trong phạm vi trách nhiệm.
2. Trong hành lang an toàn, nghiêm cấm việc xây dựng các công trình, trồng cây lâu năm, sử dụng lửa trần, các thiết bị phát nhiệt, phát lửa và các hoạt động khác gây nguy hại cho công trình dầu khí.
3. Trường hợp cần sử dụng hành lang an toàn cho mục đích an ninh, quốc phòng hoặc các mục đích đặc biệt khác, phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và phải có biện pháp bảo đảm an toàn cho công trình dầu khí.
4. Hành lang an toàn xung quanh các công trình dầu khí trên đất liền do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định trên cơ sở đề nghị của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam.
2. Khoảng cách vùng an toàn của các công trình dầu khí trên biển là 500m trở ra tính từ rìa ngoài cùng của công trình hoặc từ vị trí thả neo đối với các phương tiện nổi.
3. Trong phạm vi 2 hải lý tính từ rìa ngoài cùng của công trình dầu khí biển các phương tiện tàu, thuyền không có nhiệm vụ không được thả neo.
4. Tọa độ vùng an toàn xung quanh các hoạt động dầu khí, các công trình dầu khí trên biển do cơ quan đảm bảo hàng hải Việt Nam công bố trên cơ sở đề nghị của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam.
Điều 20. Bộ Công an có trách nhiệm :
1. Soạn thảo, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn việc thi hành Nghị định này và các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động dầu khí;
2. Chỉ đạo các đơn vị công an liên quan hướng dẫn, phối hợp với Tổng công ty Dầu khí Việt Nam tổ chức công tác phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí;
3. Hướng dẫn, chỉ đạo Tổng công ty Dầu khí Việt Nam và các ngành liên quan thực hiện công tác phòng chống cháy nổ và mất an toàn trong hoạt động dầu khí; bố trí lực lượng, phối hợp ứng cứu kịp thời khi xảy ra các vụ cháy nổ, sự cố ở công trình dầu khí;
4. Chỉ đạo và phối hợp với Tổng công ty Dầu khí Việt Nam xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và tổ chức lực lượng bảo vệ tại các đơn vị cơ sở hoạt động dầu khí và các công trình dầu khí.
Điều 21. Bộ Quốc phòng có trách nhiệm :
1. Chỉ đạo các lực lượng chức năng trực thuộc, phối hợp với lực lượng công an và Tổng công ty Dầu khí Việt Nam bảo vệ an ninh, an toàn cho hoạt động dầu khí và công trình dầu khí; tham gia các hoạt động tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, tạm giữ người, phương tiện và xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm an ninh, an toàn dầu khí; tham gia các hoạt động tìm kiếm cứu nạn, khắc phục sự cố và bảo vệ môi trường;
2. Hướng dẫn và phối hợp với Tổng công ty Dầu khí Việt Nam xây dựng phương án bảo vệ các công trình dầu khí trọng điểm trên biển.
Điều 25. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam có trách nhiệm :
1. Xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc trong các cơ quan, doanh nghiệp của mình; thực hiện công tác bảo vệ an ninh nội bộ cơ quan, doanh nghiệp; bảo vệ tài sản Nhà nước; phòng, chống các loại tội phạm và ngăn ngừa sự cố, cháy nổ và tai nạn;
2. Phối hợp với các Bộ, ngành, chính quyền địa phương, nơi có hoạt động dầu khí tuyên truyền, giáo dục công dân tham gia bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí;
3. Xây dựng lực lượng bảo vệ và lực lượng an toàn chuyên trách, bán chuyên trách theo đúng quy định của pháp luật để kịp thời ứng cứu sự cố xẩy ra và trang bị đủ phương tiện cần thiết nhằm đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí;
4. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và các địa phương liên quan tổng kết, rút kinh nghiệm công tác bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí; đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí phù hợp với tình hình điều kiện cụ thể.
THANH TRA, KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Tổ chức, cá nhân vi phạm Nghị định này và các quy định khác có liên quan đến việc bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí thì tùy theo tính chất, mức độ mà áp dụng các hình thức xử phạt hành chính. Cá nhân vi phạm có hành vi cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
Nghị định 03/2002/NĐ-CP về việc bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí
- Số hiệu: 03/2002/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 07/01/2002
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 6
- Ngày hiệu lực: 22/01/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
