Luật về quyền lập hội được ban hành năm 1957 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố, nhằm mục đích tôn trọng, bảo đảm quyền lập hội của nhân dân và góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Luật quy định quyền lập hội áp dụng đối với mọi công dân, ngoại trừ những người bị mất quyền công dân hoặc đang bị truy tố trước pháp luật. Đồng thời, Luật cũng loại trừ một số đối tượng không thuộc phạm vi điều chỉnh bao gồm:
- Các đoàn thể dân chủ và các đoàn thể nhân dân đã tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, được Quốc hội và Chính phủ công nhận.
- Các hội hoạt động vì mục đích kinh tế.
Các nội dung cốt lõi của Luật về quyền lập hội 1957
1. Nguyên tắc và điều kiện thành lập hội
- Mục đích lập hội: Việc lập hội phải có mục đích chính đáng, phù hợp với lợi ích của nhân dân, có tác dụng đoàn kết nhân dân để góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân.
- Quyền tự do tham gia: Mọi người có quyền tự do vào hội đã được thành lập hợp pháp và tự do ra khỏi hội. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm quyền lập hội cũng như quyền tự do vào, ra hội của người khác.
- Thủ tục xin phép: Để bảo đảm mục đích chính đáng và bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, việc lập hội bắt buộc phải xin phép. Thể lệ lập hội chi tiết do Chính phủ quy định.
- Quy định đối với hội cũ: Những hội đã thành lập trước ngày ban hành Luật này và từng hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nếu muốn tiếp tục hoạt động thì bắt buộc phải thực hiện thủ tục xin phép lại.
2. Quy chế hoạt động của hội hợp pháp
- Hội được thành lập hợp pháp phải hoạt động theo đúng điều lệ của hội và tuân thủ các luật lệ hiện hành.
- Hội có quyền thu hội phí của hội viên, thực hiện các giao dịch mua bán, đổi chác tài sản cần thiết phục vụ cho hoạt động của hội, và có quyền thưa kiện trước tòa án.
- Người chịu trách nhiệm chính của hội trước pháp luật là những người sáng lập hoặc các ủy viên trong ban chấp hành của hội.
3. Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về lập hội
Luật quy định các hình thức xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm quy định về lập hội, cụ thể như sau:
- Vi phạm quy định về thành lập và hoạt động: Người có trách nhiệm vi phạm các quy định về xin phép, hoạt động theo điều lệ (Điều 3, 4, 5) sẽ bị cảnh cáo hoặc truy tố trước tòa án với hình phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng và phạt tù từ 1 tháng đến 1 năm (hoặc áp dụng một trong hai hình phạt). Hội vi phạm có thể bị giải tán và tịch thu tài sản.
- Tiếp tục hoạt động trái phép: Trường hợp hội đã bị giải tán nhưng vẫn tiếp tục hoạt động hoặc tổ chức lại một cách bất hợp pháp, người chịu trách nhiệm sẽ bị truy tố với mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng và phạt tù từ 1 tháng đến 2 năm (hoặc áp dụng một trong hai hình phạt); hội tiếp tục bị giải tán và tịch thu tài sản.
- Xâm phạm quyền tự do lập hội: Người nào có hành vi xâm phạm đến quyền lập hội hoặc quyền tự do vào, ra hội của người khác sẽ bị cảnh cáo hoặc truy tố trước tòa án với hình phạt tù từ 1 tháng đến 1 năm.
- Lợi dụng quyền lập hội để hoạt động phá hoại: Nghiêm cấm việc lợi dụng quyền lập hội để hoạt động gây nguy hại đến lợi ích nước nhà và nhân dân (như chống pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây hại thuần phong mỹ tục, phá hoại sự nghiệp đấu tranh hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của Tổ quốc, phá hoại tình hữu nghị quốc tế hoặc tuyên truyền chiến tranh). Người vi phạm sẽ bị truy tố và xử phạt theo luật pháp hiện hành, hội sẽ bị giải tán và tịch thu tài sản.
Hiệu lực thi hành
Luật về quyền lập hội 1957 có hiệu lực bãi bỏ tất cả các luật lệ trước đây trái với tinh thần và quy định của Luật này. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều khoản của Luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
SẮC LỆNH
LUẬT SỐ 102-SL/L-004 NGÀY 20-5-1957 QUY ĐỊNH QUYỀN LẬP HỘI
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
RA SẮC LỆNH :
Nay ban bố luật quy định quyền lập hội đã được Quốc hội biểu quyết trong khoá họp thứ VI như sau:
LUẬT
QUY ĐỊNH QUYỀN LẬP HỘI
Quyền lập hội của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Lập hội phải có mục đích chính đáng, phù hợp với lợi ích nhân dân, có tác dụng đoàn kết nhân dân, để góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân của nước ta.
Mọi người đều có quyền lập hội, trừ những người mất quyền công dân hoặc đang bị truy tố trước pháp luật.
Mọi người có quyền tự do vào hội thành lập hợp pháp, và có quyền tự do ra hội.
Không ai được xâm phạm quyền lập hội và quyền tự do vào hội, ra hội của người khác.
Để bảo đảm việc lập hội có mục đích chính đáng, bảo vệ và củng cố chế độ dân chủ nhân dân, lập hội phải xin phép.
Những hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này và đã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nay muốn tiếp tục hoạt động, đều phải xin phép lại.
Những người chịu trách nhiệm chính của hội, tuỳ trường hợp, là những người sáng lập hay là những uỷ viên ban chấp hành của hội.
Nếu vi phạm những điều 3, 4 và 5 trên đây thì tuỳ theo trường hợp nặng nhẹ, những người có trách nhiệm sẽ bị cảnh cáo hay là bị truy tố trước toà án, và hội có thể bị giải tán, tài sản của hội có thể bị tịch thu.
Trường hợp bị truy tố trước toà án, những người có trách nhiệm sẽ bị phạt tiền từ mười vạn đồng (100.000 đ) đến năm mươi vạn đồng (500.000 đ) và phạt tù từ một tháng đến một năm, hoặc một trong hai hình phạt ấy.
Trường hợp hội đã bị giải tán mà vẫn cứ tiếp tục hoạt động hoặc tổ chức lại một cách không hợp pháp, thì những người có trách nhiệm sẽ bị truy tố trước toà án và sẽ bị xử phạt tiền từ hai mươi vạn đồng (200.000 đ) đến một triệu đồng (1.000.000 đ) và phạt tù từ một tháng đến hai năm, hoặc một trong hai hình phạt ấy, hội sẽ bị giải tán, tài sản của hội sẽ bị tịch thu.
Người nào xâm phạm đến quyền lập hội hoặc đến quyền tự do vào hội, ra hội của người khác có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và bị xử phạt tù từ một tháng đến một năm.
Người nào lợi dụng quyền lập hội để hoạt động nguy hại đến lợi ích nước nhà, lợi ích nhân dân như là chống pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, hại đến thuần phong mỹ tục, phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của Tổ quốc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, sẽ bị truy tố trước toà án và xử phạt theo luật pháp hiện hành, hội có thể bị giải tán và tài sản của hội có thể bị tịch thu.
Các đoàn thể dân chủ và các đoàn thể nhân dân đã tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, được Quốc hội và Chính phủ công nhận, không thuộc phạm vi quy định của luật này.
Các hội có mục đích kinh tế không thuộc phạm vi quy định của luật này.
Tất cả luật lệ nào trái với luật này đều bãi bỏ.
Chính phủ quy định những chi tiết thi hành luật này.
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |
- 1Quyết định 88-NV năm 1966 về việc cho phép Hội Khoa học lịch sử Việt Nam thành lập và hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 2Quyết định 343-NV năm 1969 về vịêc cho phép Hội sinh lý học Việt-nam thành lập và hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 3Quyết định 23-NV năm 1963 về việc cho phép Hội bơi lội Việt Nam thành lập hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 4Quyết định 135-NV năm 1963 về việc sát nhập Hội nhạc sĩ sáng tác Việt Nam và Hội nhạc sĩ biểu diễn và huấn luyện Việt Nam thành một hội lấy tên làm hội nhạc sĩ Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 5Quyết định 200-NV năm 1961 về việc cho phép Tổng hội y học Việt Nam thành lập Hội Da liễu Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 6Quyết định 142-NV năm 1960 về việc Cho phép Hội Việt Nam – In-đô-nê-si-a hữu nghị thành lập và hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 7Quyết định 289-NV năm 1962 về việc cho phép Hội điền kinh Việt Nam thành lập và hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ ban hành.
- 8Quyết định 341-NV năm 1960 về việc cho phép Hội Y học Việt Nam đổi tên là Tổng hội Y học Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ ban hành.
- 9Quyết định 161-NV năm 1962 về việc cho phép Hội bóng rổ Việt Nam thành lập và hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 1Quyết định 88-NV năm 1966 về việc cho phép Hội Khoa học lịch sử Việt Nam thành lập và hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 2Quyết định 343-NV năm 1969 về vịêc cho phép Hội sinh lý học Việt-nam thành lập và hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 3Quyết định 23-NV năm 1963 về việc cho phép Hội bơi lội Việt Nam thành lập hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 4Quyết định 135-NV năm 1963 về việc sát nhập Hội nhạc sĩ sáng tác Việt Nam và Hội nhạc sĩ biểu diễn và huấn luyện Việt Nam thành một hội lấy tên làm hội nhạc sĩ Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 5Quyết định 200-NV năm 1961 về việc cho phép Tổng hội y học Việt Nam thành lập Hội Da liễu Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 6Nghị định 258-TTg năm 1957 hướng dẫn Luật quyền lập hội do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 7Quyết định 142-NV năm 1960 về việc Cho phép Hội Việt Nam – In-đô-nê-si-a hữu nghị thành lập và hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 8Quyết định 289-NV năm 1962 về việc cho phép Hội điền kinh Việt Nam thành lập và hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ ban hành.
- 9Quyết định 341-NV năm 1960 về việc cho phép Hội Y học Việt Nam đổi tên là Tổng hội Y học Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ ban hành.
- 10Hiến pháp năm 1946
- 11Quyết định 161-NV năm 1962 về việc cho phép Hội bóng rổ Việt Nam thành lập và hoạt động do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
Luật về quyền lập hội 1957
- Số hiệu: 102-SL/L-004
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 20/05/1957
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 26
- Ngày hiệu lực: 04/06/1957
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
