TÓM TẮT CHI TIẾT LUẬT TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ 2025
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2025. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.
THÔNG TIN CHUNG VỀ VĂN BẢN
- Tên văn bản: Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025
- Cơ quan ban hành: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Ngày thông qua: 26/11/2025
- Người ký ban hành: Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn
- Ngày có hiệu lực: 01/07/2026
- Tình trạng hiệu lực: Sắp có hiệu lực
CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Chương này thiết lập các nguyên tắc chủ đạo, xác định phạm vi, đối tượng áp dụng, cơ quan đầu mối và các chính sách bảo vệ an toàn, bảo mật thông tin trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.
- Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng (Điều 1, Điều 2): Luật quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam. Luật áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có liên quan đến hoạt động này.
- Giải thích từ ngữ cốt lõi (Điều 3): Định nghĩa rõ Tương trợ tư pháp về hình sự là việc Việt Nam và nước ngoài hỗ trợ nhau thực hiện các hoạt động xác minh, điều tra, thu thập chứng cứ hoặc các hoạt động khác nhằm phục vụ giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án. Đồng thời định nghĩa cụ thể về Nước yêu cầu, Nước được yêu cầu, Cơ quan lập yêu cầu và Cơ quan thực hiện yêu cầu.
- Áp dụng pháp luật (Điều 4): Hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự trước hết áp dụng quy định của Luật này; trường hợp Luật này không quy định thì áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự và pháp luật liên quan của Việt Nam. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài chỉ được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự (Điều 5): Thực hiện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế. Trường hợp không cùng là thành viên điều ước quốc tế, áp dụng nguyên tắc có đi có lại nhưng không được trái pháp luật Việt Nam, phù hợp luật pháp và tập quán quốc tế.
- Cơ quan trung ương của Việt Nam (Điều 6, Điều 7): Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) là Cơ quan trung ương duy nhất của Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự. VKSNDTC làm đầu mối trao đổi thông tin, tiếp nhận, chuyển giao, đôn đốc thực hiện; quyết định việc xử lý yêu cầu theo nguyên tắc có đi có lại (có thể lấy ý kiến Bộ Ngoại giao khi cần thiết).
- Ngôn ngữ sử dụng (Điều 8): Thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế. Nếu không cùng là thành viên điều ước quốc tế, hồ sơ phải kèm bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu hoặc ngôn ngữ khác được chấp nhận. Cơ quan lập yêu cầu của Việt Nam có trách nhiệm dịch hồ sơ.
- Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự (Điều 9): Bao gồm 10 nhóm hoạt động: Tống đạt, giao, gửi văn bản tố tụng; Khám xét, thu giữ; Tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản; Tổ chức cho người sang nước ngoài hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ; Tổ chức cho người có thẩm quyền nước ngoài có mặt tại nước được yêu cầu; Chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc chấp hành án phạt tù; Lấy lời khai trực tiếp, trực tuyến; Chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự; Trao đổi thông tin; Các hình thức tương trợ khác.
- Miễn hợp pháp hóa lãnh sự (Điều 10): Hồ sơ và kết quả thực hiện được miễn hợp pháp hóa lãnh sự nếu được ký, đóng dấu bởi người hoặc cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác.
- Bảo đảm an toàn cho người được triệu tập (Điều 11): Nước yêu cầu phải cam kết bằng văn bản: không truy cứu trách nhiệm hình sự, không bắt giữ hoặc áp dụng biện pháp hạn chế tự do đối với người được triệu tập về hành vi thực hiện trước khi rời nước được yêu cầu; không buộc cung cấp chứng cứ ngoài phạm vi yêu cầu nếu không đồng ý. Người từ chối sang nước ngoài không phải chịu bất kỳ hình phạt hay biện pháp cưỡng chế nào. Quyền miễn trừ này chấm dứt nếu người đó không rời nước yêu cầu sau 15 ngày kể từ khi nhận thông báo không cần sự có mặt (trừ lý do bất khả kháng).
- Bảo mật thông tin và giới hạn sử dụng (Điều 12): Thông tin, chứng cứ chỉ được sử dụng đúng mục đích nêu trong yêu cầu, không tiết lộ cho bên thứ ba nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của nước cung cấp. Nếu không thể bảo mật, nước được yêu cầu phải thông báo ngay để tìm biện pháp thay thế.
- Giao nhận tài liệu, vật chứng, tài sản (Điều 13): Việc giao nhận giữa VKSNDTC với các cơ quan trong nước thực hiện theo luật Việt Nam; việc giao nhận với nước ngoài thực hiện theo thỏa thuận hai bên, phù hợp điều ước quốc tế và pháp luật liên quan.
- Chính sách liên quan đến hình phạt tử hình (Điều 14): Đây là quy định đặc thù và quan trọng. Khi nước ngoài yêu cầu Việt Nam không áp dụng hoặc không thi hành án tử hình để thực hiện tương trợ, VKSNDTC chủ trì phối hợp đưa ra thông báo không áp dụng/thi hành án tử hình nếu thuộc trường hợp Bộ luật Hình sự quy định, hoặc thông báo không thi hành án tử hình sau khi có ý kiến của Chủ tịch nước. Ngược lại, khi Việt Nam yêu cầu nước ngoài, VKSNDTC đề nghị nước ngoài cam kết bằng văn bản về nội dung này.
- Chi phí và Kinh phí thực hiện (Điều 15, Điều 16): Thực hiện theo điều ước quốc tế hoặc do nước được yêu cầu chi trả (nếu không có thỏa thuận khác), ngoại trừ một số chi phí đặc thù do nước yêu cầu gánh chịu (chi phí đi lại, áp giải, giám định, phiên dịch, cầu truyền hình...). Kinh phí bảo đảm do ngân sách nhà nước cấp.
- Hợp tác vùng biên giới (Điều 17): Cơ quan cấp tỉnh có chung đường biên giới có thể trực tiếp thực hiện tương trợ theo quy định của điều ước quốc tế. VKSND cấp tỉnh chịu trách nhiệm gửi, nhận yêu cầu và báo cáo VKSNDTC để quản lý.
- Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước (Điều 18): VKSNDTC thống nhất quản lý hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự trên phạm vi cả nước và báo cáo Quốc hội hằng năm. Chính phủ phối hợp quản lý và chỉ đạo các Bộ ngành. VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp. TANDTC, các Bộ, ngành phối hợp chặt chẽ với VKSNDTC.
CHƯƠNG II: YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ CỦA VIỆT NAM
Chương này quy định chi tiết về quy trình, thủ tục khi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chủ động đề nghị nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp.
- Hồ sơ và Văn bản yêu cầu (Điều 19, Điều 20): Hồ sơ gửi nước ngoài gồm văn bản yêu cầu tương trợ và các tài liệu liên quan, lập thành 03 bộ bằng ngôn ngữ phù hợp. Văn bản yêu cầu phải chứa đầy đủ các nội dung như: tên cơ quan lập, căn cứ, mục đích, thông tin vụ án, tội danh, hình phạt, nội dung yêu cầu cụ thể, thời hạn và yêu cầu bảo mật (nếu có).
- Quy trình lập và gửi yêu cầu (Điều 21): Cơ quan lập yêu cầu (Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án, Cơ quan thi hành án...) gửi hồ sơ đến VKSNDTC. Trong 10 ngày, VKSNDTC kiểm tra tính hợp lệ; nếu hợp lệ thì gửi trực tiếp cho nước ngoài hoặc chuyển Bộ Ngoại giao (Bộ Ngoại giao có 05 ngày làm việc để chuyển qua kênh ngoại giao). Nếu không hợp lệ, VKSNDTC trả lại và hướng dẫn bổ sung. Cho phép thực hiện giao nhận hồ sơ trên môi trường điện tử. Nếu yêu cầu không còn cần thiết, cơ quan lập phải thông báo ngay để VKSNDTC thông báo dừng cho nước ngoài.
- Bổ sung thông tin và Thông báo kết quả (Điều 22, Điều 23, Điều 24): VKSNDTC là đầu mối tiếp nhận yêu cầu bổ sung thông tin từ nước ngoài và chuyển cho cơ quan lập yêu cầu thực hiện. Trong 05 ngày làm việc kể từ khi nhận kết quả từ nước ngoài, VKSNDTC phải chuyển cho cơ quan lập yêu cầu. Kết quả thực hiện do nước ngoài cung cấp có giá trị pháp lý trong quá trình giải quyết vụ án, thi hành án tại Việt Nam.
- Kết thúc việc yêu cầu (Điều 25): Việc yêu cầu kết thúc khi: đã nhận đủ kết quả; nước ngoài thông báo không thực hiện được; cơ quan lập yêu cầu thông báo không còn cần thiết; hoặc các cơ quan thống nhất kết thúc khi nước ngoài không phản hồi.
- Yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 26): Đối với vụ án có người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam trốn ra nước ngoài mà không thể dẫn độ, cơ quan thụ lý chuyển hồ sơ đến VKSNDTC để yêu cầu nước nơi người đó đang có mặt hoặc mang quốc tịch tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự.
CHƯƠNG III: YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ CỦA NƯỚC NGOÀI
Chương này quy định cách thức Việt Nam tiếp nhận, xem xét và thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự do phía nước ngoài gửi đến.
- Hồ sơ và Tiếp nhận yêu cầu (Điều 27, Điều 28, Điều 29): Hồ sơ của nước ngoài gửi đến Việt Nam phải lập thành 03 bộ. VKSNDTC tiếp nhận, thụ lý và kiểm tra tính hợp lệ trong 10 ngày. Nếu hồ sơ chưa dịch ra tiếng Việt (trong trường hợp điều ước quốc tế cho phép dùng ngôn ngữ khác), VKSNDTC tổ chức dịch và xử lý trong 10 ngày kể từ khi có bản dịch. Các cơ quan khác nhận được hồ sơ phải chuyển cho VKSNDTC trong 05 ngày làm việc.
- Các trường hợp từ chối hoặc hoãn thực hiện (Điều 30):
- Từ chối bắt buộc: Vi phạm nguyên tắc độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, trật tự công cộng của Việt Nam; người bị yêu cầu đã bị kết án, tuyên vô tội hoặc được đại xá, đặc xá tại Việt Nam; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật Việt Nam; có căn cứ cho thấy yêu cầu nhằm phân biệt đối xử về chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, quan điểm chính trị.
- Từ chối tùy nghi: Hành vi không cấu thành tội phạm theo luật Việt Nam; vượt quá khả năng, điều kiện thực hiện của Việt Nam; tội phạm liên quan đến chính trị hoặc quân sự theo điều ước quốc tế.
- Hoãn thực hiện: Nếu việc thực hiện cản trở quá trình tố tụng hoặc thi hành án đang diễn ra tại Việt Nam. - Thực hiện yêu cầu và Trả kết quả (Điều 31): Cơ quan thực hiện (Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án, Cơ quan thi hành án...) tiến hành thực hiện và gửi kết quả cho VKSNDTC. Trong 05 ngày làm việc, VKSNDTC gửi kết quả cho nước ngoài.
- Thực hiện tống đạt, giao, gửi giấy triệu tập (Điều 32): Nước ngoài phải gửi yêu cầu kèm giấy triệu tập trước ít nhất 90 ngày (trừ trường hợp khẩn cấp). Cơ quan thực hiện của Việt Nam tiến hành tống đạt theo luật tố tụng hình sự và gửi văn bản xác nhận cho VKSNDTC để thông báo cho nước ngoài.
- Lấy lời khai trực tuyến (Điều 33): Cơ quan thực hiện xác minh thông tin, lấy ý kiến đồng ý của người được đề nghị lấy lời khai trực tuyến. Nếu người đó đồng ý và đáp ứng các điều kiện, VKSNDTC phối hợp với nước ngoài thống nhất về thời gian, địa điểm, chi phí và kỹ thuật để triển khai thực hiện.
- Tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản (Điều 34): Việt Nam áp dụng các biện pháp tố tụng để bảo đảm việc tịch thu, xử lý tài sản phạm tội. Việc trả lại tài sản thực hiện theo điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận chia sẻ tài sản giữa hai nước sau khi đã khấu trừ các chi phí phát sinh, bảo đảm tôn trọng quyền lợi hợp pháp của bên liên quan.
- Tổ chức cho người ở Việt Nam ra nước ngoài hỗ trợ điều tra (Điều 35): Thực hiện trên cơ sở sự đồng ý tự nguyện của người đó và cam kết bằng văn bản của nước ngoài về bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, chi phí và các quyền miễn trừ theo quy định tại Điều 11.
- Sự hiện diện của người có thẩm quyền nước ngoài tại Việt Nam (Điều 36): VKSNDTC quyết định cho phép người có thẩm quyền nước ngoài có mặt trong quá trình thực hiện tương trợ tại Việt Nam sau khi lấy ý kiến của cơ quan thực hiện trực tiếp.
- Chuyển giao tạm thời người bị tạm giam hoặc chấp hành án phạt tù (Điều 37): Chỉ thực hiện khi người đó đồng ý và nước ngoài có cam kết bằng văn bản bảo đảm an toàn, tiếp tục giam giữ và trao trả đúng hạn. Thời gian lưu lại nước ngoài được tính vào thời hạn tạm giam hoặc chấp hành án phạt tù tại Việt Nam.
- Xử lý yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự của nước ngoài (Điều 38): Đối với công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam, VKSNDTC chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hoặc VKSND cấp tỉnh, VKS quân sự cấp quân khu để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo pháp luật Việt Nam.
- Kết thúc việc thực hiện (Điều 39): Kết thúc khi VKSNDTC thông báo kết quả cho nước yêu cầu, hoặc thông báo không thực hiện được, hoặc khi nước yêu cầu chủ động thông báo dừng yêu cầu.
CHƯƠNG IV: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Chương này quy định việc sửa đổi các luật liên quan để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp.
- Sửa đổi, bổ sung các luật liên quan (Điều 40):
- Bộ luật Tố tụng hình sự: Bổ sung quy định cho phép tạm đình chỉ giải quyết tin báo tội phạm, tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ quyết định truy tố trong trường hợp đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả và đã hết thời hạn giải quyết. Việc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc.
- Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân: Thay thế cụm từ "Luật Tương trợ tư pháp" bằng "Luật Tương trợ tư pháp về hình sự".
- Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam: Không áp dụng các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh đối với người sang nước ngoài hỗ trợ điều tra hoặc người bị chuyển giao tạm thời theo quy định của Luật này. - Hiệu lực thi hành (Điều 41): Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực (trừ một số trường hợp chuyển tiếp cụ thể).
- Điều khoản chuyển tiếp (Điều 42): Các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự đã lập hoặc tiếp nhận trước ngày 01/07/2026 tiếp tục được giải quyết theo Luật Tương trợ tư pháp 2007. Thuật ngữ "ủy thác tư pháp" trong lĩnh vực hình sự tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành được sử dụng tương đương với "yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự".
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Luật số: 103/2025/QH15 | Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2025 |
LUẬT
TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với nước ngoài.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Tương trợ tư pháp về hình sự là việc Việt Nam và nước ngoài, thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hỗ trợ nhau trong việc thực hiện các hoạt động xác minh, điều tra, thu thập chứng cứ hoặc thực hiện các hoạt động khác nhằm phục vụ giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án.
2. Nước yêu cầu là nước gửi yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự để nước được yêu cầu xem xét hỗ trợ thực hiện.
3. Nước được yêu cầu là nước được đề nghị thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.
4. Cơ quan lập yêu cầu là cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đề nghị nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự để giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án.
5. Cơ quan thực hiện yêu cầu là cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật được giao thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự ở Việt Nam và nước ngoài.
Điều 4. Áp dụng pháp luật
1. Tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện theo quy định của Luật này; trường hợp Luật này không quy định thì áp dụng quy định của pháp luật về tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
2. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài chỉ được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 5. Nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự
1. Tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự thì việc tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Điều 6. Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự
1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự.
2. Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự có trách nhiệm làm đầu mối trao đổi thông tin, tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự; từ chối hoặc hoãn thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo thẩm quyền; phối hợp với các cơ quan có liên quan xem xét, giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự; đề xuất việc ký kết, gia nhập, thực hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 7. Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong tương trợ tư pháp về hình sự
1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tiếp nhận, xử lý yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài và việc gửi yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại.
2. Trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định.
Điều 8. Ngôn ngữ trong hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
1. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự thì ngôn ngữ trong hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự là ngôn ngữ được quy định trong điều ước quốc tế.
2. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự thì hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu hoặc ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp nhận.
3. Cơ quan lập yêu cầu của Việt Nam phải dịch các văn bản, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này ra ngôn ngữ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 9. Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự
Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm:
1. Tống đạt, giao, gửi văn bản tố tụng;
2. Khám xét, thu giữ;
3. Tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản;
4. Tổ chức cho người ở nước được yêu cầu sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ;
5. Tổ chức cho người có thẩm quyền ở nước yêu cầu sang nước được yêu cầu để có mặt trong quá trình thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự;
6. Chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù ở nước được yêu cầu sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ;
7. Lấy lời khai trực tiếp, trực tuyến và các hình thức thu thập, cung cấp chứng cứ khác;
8. Chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự;
9. Trao đổi thông tin;
10. Các hình thức tương trợ khác.
Điều 10. Miễn hợp pháp hóa lãnh sự
Hồ sơ yêu cầu và kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự được miễn hợp pháp hóa lãnh sự nếu được ký, đóng dấu bởi người, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Điều 11. Bảo đảm an toàn
1. Khi yêu cầu một người có mặt trên lãnh thổ của nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ thì nước yêu cầu phải cam kết bằng văn bản các nội dung sau đây:
a) Người đó sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trên lãnh thổ của nước yêu cầu về hành vi đã thực hiện trước khi rời khỏi nước được yêu cầu;
b) Người đó sẽ không bị bắt giữ hoặc bị áp dụng bất kỳ biện pháp hạn chế tự do nào khác trên lãnh thổ của nước yêu cầu về hành vi đã thực hiện trước khi rời khỏi nước được yêu cầu, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Luật này;
c) Người đó không phải cung cấp chứng cứ hoặc hỗ trợ bất kỳ hoạt động điều tra hình sự nào ngoài phạm vi đã được nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp, nếu người đó không đồng ý.
2. Người không đồng ý sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ thì không phải chịu bất kỳ hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế nào.
3. Người đồng ý sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về lời khai của họ, trừ việc họ khai báo gian dối.
4. Quyền không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị bắt giữ, bị hạn chế tự do quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này chấm dứt nếu người đó không rời khỏi nước yêu cầu sau thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu về việc không cần người đó có mặt tại lãnh thổ nước này. Thời hạn này không tính thời gian mà người đó không thể rời khỏi nước yêu cầu vì lý do bất khả kháng.
Điều 12. Bảo mật thông tin và giới hạn sử dụng
1. Thông tin, tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cung cấp chỉ được sử dụng phù hợp với mục đích đã nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, không được tiết lộ hoặc chuyển giao cho bên thứ ba. Trường hợp sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ ngoài mục đích đã nêu trong yêu cầu thì phải có sự đồng ý trước bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước kia.
2. Thông tin, tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu cung cấp phải bảo đảm không bị sai lệch, thay đổi, tiết lộ trái phép. Theo đề nghị của nước yêu cầu hoặc trong trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu quyết định việc áp dụng biện pháp phù hợp để bảo mật thông tin.
3. Trường hợp không thể thực hiện được yêu cầu về bảo mật thông tin thì cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu phải thông báo và nêu rõ lý do, trao đổi với cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu về biện pháp thay thế (nếu có).
Điều 13. Giao nhận tài liệu, vật chứng, tài sản liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự
1. Việc giao nhận tài liệu, vật chứng, tài sản liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao với cơ quan lập yêu cầu hoặc cơ quan thực hiện yêu cầu ở Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Việc giao nhận tài liệu, vật chứng, tài sản liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài do hai bên thỏa thuận, phù hợp với điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên, pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài có liên quan.
Điều 14. Xem xét yêu cầu liên quan đến hình phạt tử hình
1. Trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình để thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan đưa ra một trong các thông báo sau đây:
a) Thông báo không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình đối với người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nếu người đó thuộc trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự;
b) Thông báo không thi hành án tử hình đối với người có liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự không thuộc trường hợp được quy định tại điểm a khoản 1 Điều này sau khi có ý kiến của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Trường hợp Việt Nam yêu cầu nước ngoài không áp dụng hình phạt tử hình hoặc không thi hành án tử hình để thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị nước ngoài đưa ra cam kết bằng văn bản về nội dung này.
3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.
Điều 15. Chi phí thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
1. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự thì chi phí trong tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện theo điều ước quốc tế.
2. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự, nếu không có thỏa thuận khác thì chi phí trong tương trợ tư pháp về hình sự do nước được yêu cầu chi trả, trừ những trường hợp sau đây do nước yêu cầu chi trả:
a) Chi phí cho việc đưa người đến hoặc đưa người đi và chi phí mà người đó có thể được hưởng trong thời gian thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 9 của Luật này;
b) Chi phí cho người làm nhiệm vụ áp giải, dẫn giải hoặc hộ tống;
c) Chi phí giám định;
d) Chi phí phiên dịch, biên dịch, sao chép tài liệu;
đ) Chi phí thu thập chứng cứ qua cầu truyền hình hoặc các phương tiện kỹ thuật khác;
e) Các chi phí khác phát sinh mà nước được yêu cầu đề nghị nước yêu cầu chi trả.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 16. Kinh phí bảo đảm công tác tương trợ tư pháp về hình sự
Kinh phí cho công tác tương trợ tư pháp về hình sự do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 17. Thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới
1. Cơ quan lập yêu cầu và cơ quan thực hiện yêu cầu của các tỉnh, thành phố có chung đường biên giới giữa Việt Nam với nước ngoài có thể trực tiếp thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự trong trường hợp được quy định tại điều ước quốc tế giữa Việt Nam và nước ngoài.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh của các tỉnh, thành phố có chung đường biên giới giữa Việt Nam với nước ngoài có trách nhiệm gửi và nhận yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự do cơ quan lập yêu cầu của các tỉnh, thành phố có chung đường biên giới gửi đến; đồng thời báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao để theo dõi, phối hợp liên hệ, đôn đốc và thực hiện quản lý hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.
2. Trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới quy định tại Điều này được thực hiện tương tự theo quy định tại Chương II và Chương III của Luật này.
Điều 18. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong tương trợ tư pháp về hình sự
1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất quản lý hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự trong phạm vi cả nước; báo cáo Quốc hội về công tác tương trợ tư pháp về hình sự trong báo cáo công tác hằng năm; hướng dẫn cơ quan có thẩm quyền thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác của Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự.
2. Chính phủ phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thực hiện quản lý hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự; chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.
3. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự; các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác, cơ quan thi hành án và cơ quan khác có liên quan, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát và các cơ quan đối với hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.
4. Tòa án nhân dân tối cao, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thực hiện quản lý hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.
Chương II
YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ CỦA VIỆT NAM
Điều 19. Hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam
1. Hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam gửi nước ngoài bao gồm các tài liệu sau đây:
a) Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này;
b) Tài liệu khác (nếu có).
2. Hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam được lập thành 03 bộ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ngôn ngữ được sử dụng để lập hồ sơ theo quy định tại Điều 8 của Luật này.
Điều 20. Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam
1. Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam gửi nước ngoài phải có các nội dung chính sau đây:
a) Tên cơ quan lập yêu cầu;
b) Căn cứ lập yêu cầu;
c) Tên cơ quan trung ương của nước được yêu cầu;
d) Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức có liên quan đến yêu cầu;
đ) Mục đích của yêu cầu;
e) Thông tin về vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án;
g) Quy định của pháp luật Việt Nam về tội danh và hình phạt có thể áp dụng;
h) Các nội dung yêu cầu nước ngoài tương trợ;
i) Thời hạn thông báo kết quả thực hiện yêu cầu (nếu có);
k) Yêu cầu bảo mật thông tin (nếu có).
2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 21. Lập, gửi yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
1. Cơ quan lập yêu cầu của Việt Nam bao gồm:
a) Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự;
b) Cơ quan điều tra;
c) Viện kiểm sát;
d) Tòa án;
đ) Cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự;
e) Cơ quan khác theo quy định của pháp luật.
2. Khi phát sinh nhu cầu đề nghị nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự, cơ quan lập yêu cầu lập hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định tại Điều 19 của Luật này và gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
3. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu, Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào sổ thụ lý, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ. Trường hợp hồ sơ hợp lệ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc chuyển cho Bộ Ngoại giao trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao, đồng thời thông báo cho cơ quan lập yêu cầu biết. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trả lại hồ sơ cho cơ quan lập yêu cầu, nêu rõ lý do, đề nghị bổ sung thông tin hoặc hướng dẫn lập lại yêu cầu.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm chuyển hồ sơ qua kênh ngoại giao để gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hỗ trợ thực hiện.
5. Trường hợp theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo quy định của pháp luật nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trực tiếp lập yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự thì cơ quan lập yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
6. Trường hợp sau khi đã gửi hồ sơ yêu cầu cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, nếu cơ quan lập yêu cầu nhận thấy việc đề nghị nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự không còn cần thiết thì phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc kết thúc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.
7. Việc tiếp nhận, chuyển giao văn bản, tài liệu, hồ sơ có thể được tiến hành trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.
Điều 22. Bổ sung thông tin
1. Khi nhận được đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc bổ sung, làm rõ thông tin liên quan đến vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án hoặc nội dung khác trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản cho cơ quan lập yêu cầu để thực hiện và nêu rõ thời hạn. Cơ quan lập yêu cầu có văn bản bổ sung, làm rõ thông tin gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đề nghị bổ sung, làm rõ thông tin liên quan đến quy định của pháp luật Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp thông tin gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
3. Trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với cơ quan lập yêu cầu và các cơ quan khác có liên quan thống nhất nội dung thông tin cần bổ sung, làm rõ.
Điều 23. Thông báo kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi kết quả cho cơ quan lập yêu cầu.
2. Sau khi tiếp nhận kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, nếu thấy kết quả chưa rõ hoặc chưa đầy đủ, cơ quan lập yêu cầu có thể đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bổ sung, làm rõ.
3. Khi nhận được đề nghị quy định tại khoản 2 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bổ sung, làm rõ kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.
Điều 24. Giá trị pháp lý của kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
Kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện theo quy định của Luật này, do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp, có giá trị pháp lý và được xem xét, sử dụng trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án theo quy định của pháp luật.
Điều 25. Kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
1. Việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự kết thúc trong các trường hợp sau đây:
a) Cơ quan lập yêu cầu đã nhận được đầy đủ kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự;
b) Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có văn bản thông báo không thực hiện được yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự;
c) Cơ quan lập yêu cầu có văn bản thông báo việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự không còn cần thiết;
d) Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan lập yêu cầu và các cơ quan có liên quan thống nhất kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự trong trường hợp không nhận được phản hồi của nước ngoài.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.
Điều 26. Yêu cầu nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Đối với vụ án có người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam mà người đó đã trốn ra nước ngoài nhưng không dẫn độ được thì cơ quan đang thụ lý vụ án chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao để yêu cầu nước nơi người phạm tội đang có mặt hoặc nước người phạm tội mang quốc tịch tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi quyết định chuyển giao hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể chuyển giao cả vật chứng của vụ án.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.
Chương III
YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ CỦA NƯỚC NGOÀI
Điều 27. Hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài gửi Việt Nam bao gồm các tài liệu sau đây:
a) Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài quy định tại Điều 28 của Luật này;
b) Tài liệu khác (nếu có).
2. Hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài được lập thành 03 bộ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ngôn ngữ được sử dụng để lập hồ sơ theo quy định tại Điều 8 của Luật này.
Điều 28. Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài gửi Việt Nam phải có các nội dung chính sau đây:
1. Tên cơ quan lập yêu cầu;
2. Căn cứ lập yêu cầu;
3. Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức có liên quan đến yêu cầu;
4. Mục đích của yêu cầu;
5. Thông tin về vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án; các tình tiết của vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án liên quan đến Việt Nam; mối liên hệ giữa cá nhân, tổ chức có liên quan đến yêu cầu với nội dung vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án; tiến độ giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án;
6. Quy định pháp luật của nước yêu cầu về tội danh và hình phạt có thể áp dụng;
7. Các nội dung yêu cầu Việt Nam tương trợ;
8. Thời hạn thông báo kết quả thực hiện yêu cầu (nếu có);
9. Yêu cầu bảo mật thông tin (nếu có).
Điều 29. Tiếp nhận hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào sổ thụ lý, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ yêu cầu. Trường hợp hồ sơ hợp lệ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển hồ sơ cho cơ quan thực hiện yêu cầu để thực hiện. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trả lại hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc đề nghị bổ sung thông tin và nêu rõ lý do.
2. Trường hợp điều ước quốc tế giữa Việt Nam và nước ngoài quy định yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự có thể được lập bằng ngôn ngữ khác, nếu hồ sơ chưa được dịch ra tiếng Việt, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức dịch hồ sơ ra tiếng Việt theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được bản dịch, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xử lý hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự được gửi qua các cơ quan khác thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu, cơ quan nhận được hồ sơ có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
4. Việc tiếp nhận, chuyển giao văn bản, tài liệu, hồ sơ có thể được tiến hành trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.
Điều 30. Từ chối, hoãn thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài bị từ chối thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Vi phạm nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
c) Gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia, trật tự công cộng của Việt Nam;
d) Liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự một người về hành vi phạm tội mà người đó đã bị kết án, được tuyên không có tội hoặc được đại xá, đặc xá tại Việt Nam;
đ) Liên quan đến hành vi phạm tội đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam;
e) Có căn cứ cho rằng yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự một người vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nguồn gốc dân tộc, quan điểm chính trị của người đó hoặc vì những lý do này mà người đó có thể bị đối xử không công bằng trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài có thể bị từ chối thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có hành vi vi phạm pháp luật nhưng không cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam;
b) Việc thực hiện yêu cầu vượt quá khả năng, điều kiện của các cơ quan thực hiện yêu cầu ở Việt Nam;
c) Yêu cầu đối với tội phạm có liên quan đến chính trị hoặc lĩnh vực quân sự theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
3. Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài có thể bị hoãn thực hiện tại Việt Nam nếu việc thực hiện cản trở quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án tại Việt Nam.
4. Khi quyết định từ chối hoặc hoãn thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và nêu rõ lý do.
Điều 31. Thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Cơ quan thực hiện yêu cầu ở Việt Nam bao gồm:
a) Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự,
b) Cơ quan điều tra;
c) Viện kiểm sát;
d) Tòa án;
đ) Cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự;
e) Cơ quan khác theo quy định của pháp luật.
2. Sau khi thực hiện yêu cầu, cơ quan thực hiện yêu cầu quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này gửi kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi kết quả cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài là thành viên hoặc thông qua kênh ngoại giao.
3. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự hoặc cần bổ sung thông tin, tài liệu, cơ quan thực hiện yêu cầu thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nêu rõ lý do để Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết khoản 1 Điều này.
Điều 32. Thực hiện yêu cầu về tống đạt, giao, gửi giấy triệu tập
1. Trường hợp triệu tập người làm chứng, người giám định hoặc những người có liên quan khác đang có mặt tại Việt Nam sang nước yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu gửi văn bản yêu cầu kèm theo giấy triệu tập (nếu có) cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao chậm nhất là 90 ngày trước ngày người đó phải có mặt tại nước yêu cầu. Trong trường hợp khẩn cấp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể không áp dụng thời hạn này.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển yêu cầu cho cơ quan thực hiện yêu cầu khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Yêu cầu có liên quan đến vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án ở nước yêu cầu;
b) Có căn cứ cho rằng người cần triệu tập đang có mặt tại Việt Nam.
3. Cơ quan thực hiện yêu cầu phải kịp thời thực hiện việc tống đạt, giao, gửi giấy triệu tập theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về tố tụng hình sự hoặc theo đề nghị trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. Sau khi tống đạt, giao, gửi giấy triệu tập, cơ quan thực hiện yêu cầu phải gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản xác nhận đã tống đạt, giao, gửi hoặc nếu không tống đạt, giao, gửi được thì phải nêu rõ lý do để thông báo cho nước yêu cầu.
Điều 33. Thực hiện yêu cầu về lấy lời khai trực tuyến
1. Sau khi tiếp nhận yêu cầu về lấy lời khai trực tuyến, cơ quan thực hiện yêu cầu tiến hành xác minh thông tin và địa chỉ của người được đề nghị lấy lời khai trực tuyến; lấy ý kiến của người đó về việc đồng ý hoặc không đồng ý tham gia hoạt động lấy lời khai trực tuyến và thông báo các vấn đề khác có liên quan.
2. Cơ quan thực hiện yêu cầu thông báo ý kiến của người được đề nghị lấy lời khai trực tuyến cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để thông báo cho nước yêu cầu.
3. Trường hợp người được đề nghị lấy lời khai trực tuyến đồng ý và yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng các điều kiện của Việt Nam, thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho nước yêu cầu và đề nghị nước yêu cầu cung cấp thông tin về thời gian, địa điểm tiến hành lấy lời khai; các khoản chi phí cho người được lấy lời khai; thành phần tham gia lấy lời khai tại điểm cầu của nước yêu cầu và các thông tin cần thiết khác.
Trường hợp người được đề nghị lấy lời khai trực tuyến không đồng ý hoặc đồng ý nhưng kèm theo điều kiện thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho nước yêu cầu biết.
4. Trường hợp nước yêu cầu đáp ứng quy định tại khoản 3 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan thực hiện yêu cầu để triển khai thực hiện.
5. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.
Điều 34. Thực hiện yêu cầu về tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các biện pháp tố tụng nhằm bảo đảm việc tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản liên quan đến hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự, việc trả lại tài sản bị tịch thu được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định, việc trả lại tài sản bị tịch thu được thực hiện theo thỏa thuận về chia sẻ tài sản giữa Việt Nam và nước ngoài.
3. Các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự được khấu trừ trước khi tiến hành thỏa thuận về chia sẻ tài sản giữa Việt Nam và nước ngoài.
4. Khi áp dụng Điều này, các quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và bảo vệ.
5. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xác định chi phí phát sinh và thỏa thuận về chia sẻ tài sản giữa Việt Nam và nước ngoài.
Điều 35. Tổ chức cho người ở Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ
1. Theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể tổ chức cho người không thuộc trường hợp quy định tại Điều 37 của Luật này sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ. Khi xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tiếp tục áp dụng biện pháp hạn chế tự do đối với người đó.
2. Sau khi xem xét các điều kiện mà cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cam kết bằng văn bản theo quy định tại Điều 11 của Luật này, cam kết bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại và các điều kiện cần thiết khác, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với cơ quan thực hiện yêu cầu đề nghị người quy định tại khoản 1 Điều này hỗ trợ điều tra hoặc cung cấp chứng cứ trên lãnh thổ của nước ngoài; thông báo cho người đó việc bảo đảm an toàn, điều kiện ăn ở, đi lại tại nước ngoài, số tiền trợ cấp hoặc chi phí có thể được hưởng và các thông tin liên quan khác.
3. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo ngay ý kiến của người đó cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Nếu người đó có ý kiến đồng ý thì tiến hành các thủ tục cần thiết để tổ chức cho người đó sang nước ngoài hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ.
Điều 36. Tổ chức cho người có thẩm quyền của nước ngoài đến Việt Nam để có mặt trong quá trình thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đề nghị Việt Nam cho phép người có thẩm quyền nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự có mặt trong quá trình thực hiện yêu cầu ở Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lấy ý kiến của cơ quan thực hiện yêu cầu; nếu đồng ý, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về thời gian và địa điểm thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự; nếu không đồng ý hoặc phát sinh tình huống có thể hoãn việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và nêu rõ lý do.
Điều 37. Chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ
1. Người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có thể được chuyển giao tạm thời cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ tại nước ngoài. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tiếp tục giam giữ người bị chuyển giao tạm thời.
2. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chỉ chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều này khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Người đó đồng ý với việc chuyển giao tạm thời để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ tại nước ngoài;
b) Có cam kết bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc bảo đảm an toàn theo quy định tại Điều 11 của Luật này, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại, thời hạn, phương thức tiếp nhận, trao trả và các điều kiện khác liên quan đến việc chuyển giao tạm thời. Việc trao trả lại người bị chuyển giao tạm thời cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải được thực hiện theo đúng thời hạn đã cam kết
3. Thời gian mà người bị chuyển giao tạm thời bị áp giải, lưu lại ở nước ngoài được tính vào thời hạn tạm giam hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù của người đó.
4. Khi thời hạn tạm giam hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù đã hết hoặc khi xét thấy không cần phải tiếp tục giam giữ người bị chuyển giao tạm thời, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để trả tự do và bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này đối với người đó.
Trường hợp xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để áp dụng biện pháp hạn chế tự do khác đối với người bị tạm giam đã được trả tự do quy định tại khoản này.
5. Khi thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, trình tự, thủ tục, thẩm quyền; quyết định, thi hành việc chuyển giao tạm thời được thực hiện tương tự quy định về trích xuất, áp giải người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
6. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.
Điều 38. Xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Khi nhận được hồ sơ yêu cầu của nước ngoài về việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và xử lý như sau:
a) Chuyển cho Cơ quan điều tra Bộ Công an hoặc Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng để tiến hành điều tra theo thẩm quyền;
b) Chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi người bị đề nghị tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự cư trú cuối cùng trước khi ra nước ngoài hoặc Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thẩm quyền để tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để chuyển cho Cơ quan điều tra cùng cấp tiến hành điều tra theo thẩm quyền.
2. Việc điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
3. Trong quá trình xử lý yêu cầu của nước ngoài về việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu cần có thêm thông tin, tài liệu từ nước ngoài, cơ quan thực hiện yêu cầu có văn bản gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao để đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu.
Điều 39. Kết thúc việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
1. Việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự kết thúc trong các trường hợp sau đây:
a) Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo kết quả thực hiện cho nước yêu cầu;
b) Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho nước yêu cầu việc không thực hiện được yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự;
c) Nước yêu cầu thông báo kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.
2. Trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan thực hiện yêu cầu để kết thúc việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 40. Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan
1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 148 như sau:
“a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả; đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 148 như sau:
“3. Trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.”;
c) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 229 như sau:
“c) Khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;”;
d) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 247 như sau:
“c) Khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn quyết định việc truy tố. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;”;
đ) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 443 như sau:
“1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.”;
e) Thay thế cụm từ “Luật Tương trợ tư pháp” bằng cụm từ “Luật Tương trợ tư pháp về hình sự” tại điểm c khoản 3 Điều 185;
g) Bổ sung cụm từ “người đang bị tạm giam,” vào sau cụm từ “người giám định,” tại Điều 496.
2. Thay thế cụm từ “Luật Tương trợ tư pháp” bằng cụm từ “Luật Tương trợ tư pháp về hình sự” tại khoản 4 Điều 32 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số 63/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 82/2025/QH15.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 28 của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam số 47/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 51/2019/QH14 và Luật số 23/2023/QH15 như sau:
“2. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với những người quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.”.
Điều 41. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp chuyển tiếp quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật này, Điều 45 của Luật Dẫn độ, Điều 48 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và khoản 1 Điều 38 của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.
Điều 42. Điều khoản chuyển tiếp
1. Các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân tối cao lập hoặc tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15.
2. Quy định “ủy thác tư pháp” trong lĩnh vực hình sự theo khoản 1 Điều 6 của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành được sử dụng tương đương quy định “yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự” quy định tại Luật này.
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2025./.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1Luật tương trợ tư pháp 2007
- 2Quyết định 285/QĐ-TTg năm 2024 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định Tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Việt Nam - Lào do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Thông báo 3327/BNG-LPQT năm 2024 hiệu lực Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam - Séc do Bộ Ngoại giao ban hành
- 4Quyết định 1040/QĐ-TTg năm 2024 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định Tương trợ Tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Việt Nam - Thái Lan do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Hiến pháp 2013
- 2Bộ luật hình sự 2015
- 3Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi 2019
- 4Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021
- 5Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi 2023
- 6Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024
- 7Quyết định 285/QĐ-TTg năm 2024 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định Tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Việt Nam - Lào do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 8Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024
- 9Thông báo 3327/BNG-LPQT năm 2024 hiệu lực Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam - Séc do Bộ Ngoại giao ban hành
- 10Quyết định 1040/QĐ-TTg năm 2024 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định Tương trợ Tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Việt Nam - Thái Lan do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 11Nghị quyết 203/2025/QH15 sửa đổi Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Quốc hội ban hành
- 12Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi 2025
- 13Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025
- 14Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025
- Số hiệu: 103/2025/QH15
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Trần Thanh Mẫn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 31
- Ngày hiệu lực: 01/07/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
