Ngày 12 tháng 4 năm 2002, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký ban hành Lệnh số 07/2002/L-CTN về việc công bố Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Đây là văn bản pháp lý nền tảng nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về cơ quan xét xử, tạo cơ sở vững chắc cho việc kiện toàn tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân trong thời kỳ cải cách tư pháp.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với toàn bộ hệ thống Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp, các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân, cũng như các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động tố tụng và tổ chức bộ máy của ngành Tòa án tại Việt Nam.
Nội dung cốt lõi của Lệnh công bố và các điều khoản đầu (Điều 1 - Điều 4)
1. Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân (Điều 1)
- Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp nhằm bảo vệ công lý và pháp chế.
- Nhiệm vụ trọng tâm của Tòa án là bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
- Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án có trách nhiệm giáo dục công dân lòng trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội và ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
2. Hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân (Điều 2)
- Hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam được tổ chức chặt chẽ bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao; các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; và các Tòa án quân sự.
- Quy định rõ cơ cấu các Tòa án quân sự gồm: Tòa án quân sự trung ương; các Tòa án quân sự quân khu và tương đương; các Tòa án quân sự khu vực.
- Trong trường hợp đặc biệt cần thiết để giải quyết các nhiệm vụ khẩn cấp hoặc đặc thù, Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền quyết định thành lập các Tòa án đặc biệt theo quy định của pháp luật.
3. Nguyên tắc tham gia của Hội thẩm nhân dân trong xét xử (Điều 3)
- Hoạt động xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân bắt buộc phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân, và đối với Tòa án quân sự là Hội thẩm quân nhân, trừ các trường hợp đặc biệt do pháp luật tố tụng quy định.
- Khi tham gia xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, biểu quyết theo đa số, nhằm bảo đảm tính dân chủ, khách quan và sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.
4. Nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm (Điều 4)
- Khi tiến hành xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm hoàn toàn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
- Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp, tác động từ các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân vào quá trình phán quyết của Thẩm phán và Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào, nhằm bảo đảm tính tôn nghiêm và công bằng của pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Lệnh công bố của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2002, thay thế cho Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 và các văn bản sửa đổi, bổ sung trước đó.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 06/2002/L-CTN | Hà Nội , ngày 12 tháng 04 năm 2002 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN.
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội Khóa X, Kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 91 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 50 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật Tổ chức Toà án nhân dân
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02 tháng 4 năm 2002./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 4Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 5Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002
- 6Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành
- 7Lệnh công bố Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014
Lệnh công bố Luật Tổ chức Toà án nhân dân 2002
- Số hiệu: 06/2002/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 12/04/2002
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 25
- Ngày hiệu lực: 12/04/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
