|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/DS-ST
Ngày: 19-12-2025
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất,
buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Tiếp
Bà Hoàng Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tình - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại Toà án nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 242/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST -DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1950; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thành phố T (N là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Đình T, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thành phố T (N là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị L, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
- Anh Lê Đình C, sinh năm 1977; Địa chỉ: SN A tổ A khu phố B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
- Anh Lê Đình L1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước; Địa chỉ liên hệ: Cơ sở cai nghiện ma túy Đ - xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước (Nay là tỉnh Đồng Nai). (vắng mặt)
- Bà Lê Thị L2, sinh năm: 1958; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thành phố T (N là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
Chị L, anh L1, anh C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày:
Bà và ông Lê Đình V là vợ chồng, được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng thửa đất, tại xứ đồng Dọc T, thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa thửa đất số 332 diện tích 217m², đến năm 2012 là thửa đất số 392 diện tích 217,5m², tờ bản đồ số 10, hình thức sử dụng riêng, thời điểm sử dụng đất: nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất năm 1994. Mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, thời hạn sử dụng đến ngày 15/10/2064. Đến năm 2010 thì chồng bà là ông Lê Đình V chết. Do hoàn cảnh gia đình bà D phải đi làm ăn xa, đến khi bà về thì thấy gia đình ông Lê Đình T đã lấn chiếm xây dựng trái phép trên phần đất nông nghiệp của gia đình bà khiến gia đình không còn đất canh tác sản xuất đảm bảo cuộc sống. Bà D đã làm đơn đề nghị UBND xã Đ (cũ) hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, ông T không thừa nhận đã lấn chiếm đất của bà mặc dù đã được UBND xã Đ xác định ranh giới, hiện trạng sử dụng đất đã kết luận ông T lấn chiếm xây dựng trái phép đất của gia đình bà. Nay bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Đình T trả lại diên tích đã lấn chiếm theo sơ đồ đo đạc hiện trạng ngày 09/5/2025 là 108,8m² đất nông nghiệp tại thửa đất số 392 tờ bản đồ số 10 năm 2012 được Ủy ban nhân dân huyện Đ (Nay là thành phố T) cấp ngày 10/11/2016 tại cánh đồng Dọc T1, thôn H, xã Đ, huyện Đ (nay là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa đã lấn chiếm của bà. Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Đình T trình bày: Ông, bà kết hôn năm 1978 đến năm 1983 thì vợ chồng ra thôn D cũ (gần thửa đất đang tranh chấp với bà D) sinh sống. Tại thời điểm đó vợ chồng ông bà mua đất của ông Lê Kinh M (đã chết), khi mua bán hai bên có giấy tờ mua bán và ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2012 ông bà có xây dựng nhà ở và một số công trình phụ, tại thời điểm xây dựng không có ai khiếu nại tranh chấp gì. Đất nhà ông được cấp là đất nông nghiệp, ao vườn không được xây dựng nhà ở và công trình. Quá trình xảy ra tranh chấp ông bà cho rằng có việc lấn hiếm đất nhà bà D, tuy nhiên về phần ngôi nhà của ông không xây dựng vào phần đất lấn chiếm. Ông T đề nghị Tòa án xem xét theo bản đồ địa chính đã đo đạc nếu đúng là ông bà lấn chiếm đất nhà bà D thì ông bà sẽ tự tháo dỡ công trình để trả lại đất cho bà D.
Bà Lê Thị L2 là vợ ông Lê Đình T: thống nhất với quan điểm của ông Lê Đình T.
Tại bản tự khai của anh Lê Đình L1, Lê Đình C, chị Lê Thị L trình bày: Gia đình anh chị được cấp thửa đất số 392, tờ bản đồ số 10 năm 2012 được ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 10/11/2016 tại cánh đồng Dọc T1, thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa để canh tác. Tuy nhiên, gia đình ông Lê Đình T đã lợi dụng việc gia đình bà D đi vắng (bà D vào miền N thăm các con) nên đã có hành vi lấn chiếm toàn bộ diện tích đất 217,5m² để sử dụng vào việc cá nhân. Hành vi lấn chiếm, xây dựng trái phép các công trình chăn nuôi của gia đình ông T trên diện tích đất của gia đình bà D là hành vi vi phạm pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông T phải trả toàn bộ diện tích đất 217,5m² đã lấn chiếm, đồng thời tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, vật dụng mà gia đình ông T đã xây dựng trái phép trên thửa đất của gia đình bà D.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc ngày 09/5/2025 thì diện tích đất đang tranh chấp có diện tích là 108,8m².
Phần đất còn lại của thửa số 392 có diện tích đo đạc thực tế là 108,2m²
+ Chuồng chăn nuôi mái fibro: 13.0m²
+ Sân xi măng: 11.3m²
+ Một đoạn tường ngăn ao dài 8.43m x cao 0.5m
+ Một đoạn trường bao đất dài 4.49m x cao 1.5m
Phần đất trồng lấn (đất nằm trong ranh giới thửa 392 hiện gia đình ông T đang sử dụng) có diện tích 108,8m²
Công trình trên phần đất trồng lấn và giá trị được xác định:
- + Một phần nhà mái bằng: 7.2m² = 11.868.480₫
- + Một phần sân xi măng: 72.2m² = 974.700₫
- + Một đoạn tường hoa bao sân dài 20.76m x cao 0.8m =514,910₫
- + 02 trụ, kích thước mỗi trụ: 0.37 m x 0.37m x 2.35m = 88.128₫
- + Cổng sắt: 2.19m x 2.1m = 1.368.900₫
- + Một đoạn tường bao đất dài: 4.56m x cao 1.5m = 212.000₫
- + Một phần ao: 20.2m² = 103.020₫
- + Một phần vườn trồng chuối: 9.2m² (gồm 10 gốc chuối) = 400.000₫
Phần đất nằm trong ranh giới thửa 392 là ngõ đi có diện tích 0,5m²
- Kết quả định giá phần đất trồng lấn, tài sản nằm trên phần đất trồng lấn
Tổng giá trị phần diện tích đất lấn chiếm 108,8m² x 166.000đ/m² = 18.060.800₫
Tổng giá trị công trình xây dựng trên phần đất tranh chấp: 15.148.178₫;
Tổng trị giá cây cối, hoa màu trên đất: 400.000₫
Tổng cộng: 33.608.978₫
Tại công văn số 519/UBND-KTHTSĐT ngày 18/8/2025 về cung cấp thông tin, tài liệu:
- Về nguồn gốc thửa đất hộ bà Lê Thị D:
- Căn cứ số giao ruộng năm 1994 theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, gia đình bà Lê Thị D được giao ruộng tại thửa 187 tờ bản đồ số 04, diện tích 761,0 m², loại đất 2L, tương ứng với thửa 392 tờ bản đồ số 10 bản đồ địa chính lập năm 2012, diện tích 217,5 m² (một phần diện tích được giao), loại đất LUC.
- Về nguồn gốc thửa đất hộ ông Lê Đình T:
- Kiểm tra sổ giao ruộng năm 1994 theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp thì hộ ông Lê Đình T không được nhà nước giao tại thửa đất này.
- Việc gia đình ông T xây dựng công trình trên đất tại thửa đất nêu trên, UBND xã Đ cũ không lập hồ sơ vi phạm (qua xác minh hộ ông T xây dựng công trình năm 2014).
- Về hồ sơ địa chính: - Kèm theo công văn này là số giao ruộng của gia đình bà Lê Thị D và ông Lê Đình T.
- Về việc xử lý hành vi vi phạm của gia đình ông Lê Đình T:
- Nếu việc ông Lê Đình T có hành vi vi phạm lấn chiếm đất nông nghiệp của bà Lê Thị D để xây dựng công trình là đúng và sau khi có Quyết định của cấp có thẩm quyền về việc này, trên cơ sở đó UBND phường Đ sẽ tổ chức thực hiện xử lý nghiêm hành vi vi phạm theo quy định.
Tại phiên tòa bà D chấp nhận cho gia đình ông T thời gian 02 tháng để tháo dỡ nhà và công trình xây dựng trên đất, đối với chi phí tháo dỡ công trình bà D không hỗ trợ.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Đình L1, Lê Đình C, chị Lê Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải tháo dỡ công trình và trả lại đất.
Tại phiên tòa ông T, bà L2 vẫn giữ nguyên quan điểm: đối với phần đất ông bà xây dựng lấn chiếm sang đất nhà bà D thì gia đình sẽ tháo dỡ, riêng đối với phần diện tích 7.2m² nhà mái bằng không xây dựng trên phần đất lấn chiếm thì gia đình sẽ không tháo dỡ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có lý do, đề nghị Tòa án căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS để xét xử. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; 147; 157; 165; khoản 1 Điều 227, 228; Điều 271, 273 của BLTTDS; Điều 163, 164, 165, 166 Bộ luật dân sự 2015; Điều 4,5, 26, 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
- Về án phí: Bà Lê Thị D, ông Lê Đình T, bà Lê Thị L2 là người cao tuổi nên được miễn án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn bà Lê Thị D và ông Lê Đình T Tranh chấp quyền sử dụng đất bị lấn chiếm, yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất. Thửa đất tranh chấp có địa chỉ tại Thôn H, xã Đ, thành phố T (N là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Hóa theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Đình L1, anh Lê Đình C, chị Lê Thị L có đơn đề nghị vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 BLTTDS để giải quyết vắng mặt đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung: Căn cứ số giao ruộng năm 1994 theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, gia đình bà Lê Thị D được giao ruộng tại thửa 187 tờ bản đồ số 04, diện tích 761,0 m², loại đất 2L, tương ứng với thửa 392 tờ bản đồ số 10 bản đồ địa chính lập năm 2012, diện tích 217,5 m² (một phần diện tích được giao), loại đất LUC. Thửa đất 392, tờ bản đồ số 10 đo đạc năm 2012 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE992249 ngày 10/11/2016 tại cánh đồng
Dọc T, thôn H, xã Đ, huyện Đ (nay là thành phố T), tỉnh Thanh Hóa là của vợ chồng bà Lê Thị D, ông Lê Kinh V1 trên cơ sở được giao đất từ năm 1994. Ông Lê Kinh V1 đã chết vào năm 2010 nên người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là con chung của ông V1, bà D gồm anh Lê Đình L1, anh Lê Đình C, chị Lê Thị L.
[3]. Xét diện tích đất lấn chiếm:
Kết quả thẩm định tại chỗ cho thấy phần đất còn lại của thửa đất số 329 có diện tích đo đạc thực tế là 108,2m²; phần đất trồng lấn (đất nằm trong ranh giới thửa 392 hiện gia đình ông T đang sử dụng) có diện tích 108,8m², tài sản nằm trên phần đất lấn chiếm gồm:
- + Một phần nhà mái bằng: 7.2m²
- + Một phần sân xi măng: 72.2m²
- + Một đoạn tường hoa bao sân dài 20.76m x cao 0.8m
- + 02 trụ, kích thước mỗi trụ: 0.37 m x 0.37m x 2.35m
- + Cổng sắt: 2.19m x 2.1m
- + Một đoạn trường bao đất dài: 4.56m x cao 1.5m
- + Một phần ao: 20.2m2
- + Một phần vườn trồng chuối: 9.2m² (gồm 10 gốc chuối)
Quá trình giải quyết, tại biên bản hòa giải ngày 12/3/2025 tại UBND xã Đ, huyện Đ (N là phường Đ) ông T cũng đã thừa nhận năm 2014, gia đình ông tự ý san lấp xây dựng công trình phụ vào diện tích 217,5m² tại thửa 392, tờ bản đồ số 10 của gia đình bà Lê Thị D.
Tại bản cam kết ngày 02/01/2025 ông Lê Đình T xác nhận thửa đất số 19, tờ bản đồ số 12 bản đồ địa chính xã Đ đo vẽ năm 2010, diện tích 406,0m² được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ năm 1994 mang tên ông Lê Đình T. Đo thực tế 603m² (thừa 197m²). Ông đề nghị giao lại phần đất thừa cho UBND xã quản lý.
Như vậy, thửa đất số 392, diện tích 217,5m², loại đất lúa, tờ bản đồ số 10, bản đồ địa chính xã Đ, huyện Đ (N là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa đo vẽ năm 2012 được Nhà nước giao cho bà Lê Thị D sử dụng là thực tế và có căn cứ. Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu của bà Lê Thị D đối với diện tích đất ông T lấn chiếm 108,8m².
Đối với yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan buộc ông Lê Đình T trả lại 217,5m² cho bà Lê Thị D. Căn cứ vào các tài liệu trên thấy rằng việc yêu cầu ông T trả lại 217,5m² là không có cơ sở, mà chỉ chấp nhận một phần yêu cầu.
Ông T xây dựng nhà, công trình và trồng cây cối hoa màu trên đất của bà D không được sự cho phép của chủ sử dụng hợp pháp nên khi trả đất, phần công trình và hoa màu trên đất ông T có trách nhiệm thu hoạch, tháo dỡ.
Hiên ông T chưa có nơi ở mới nên chấp nhận sự tự nguyện của bà D cho ông T được lưu cư trong thời gian 02 tháng để tạo lập nơi ở mới.
[4]. Về chi phí thẩm định, định giá: Bà D tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Bà Lê Thị D, ông Lê Đình T, bà Lê Thị L2 là người cao tuổi nên được miễn án phí DSST theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về
án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; 147; 157; 165; khoản 1 Điều 227, 228; Điều 271, 273 của BLTTDS; Điều 163, 164, 165, 166 Bộ luật dân sự 2015; Điều 4,5, 26, 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị D.
- Công nhận diện tích đất 217,5m² thuộc thửa đất số 392 tờ bản đồ số 10 năm 2012 được Ủy ban nhân dân huyện Đ (Nay là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa) cấp ngày 10/11/2016 tại cánh đồng Dọc T1, thôn H, xã Đ, huyện Đ (nay là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa thuộc quyền sử dụng của bà Lê Thị D, anh Lê Đình L1, anh Lê Đình C, chị Lê Thị L.
- Buộc ông Lê Đình T, bà Lê Thị L2 di dời, tháo dỡ toàn bộ nhà, vật kiến trúc và cây trồng trên đất giao trả lại cho bà Lê Thị D, anh Lê Đình L1, anh Lê Đình C, chị Lê Thị L diện tích đất lấn chiếm 108,8m² thuộc thửa đất số 392, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: cánh đồng Dọc T, thôn H, xã Đ, huyện Đ (nay là phường Đ), tỉnh Thanh Hóa. Vị trí đất được giới hạn bởi các điểm theo sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 09/5/2025 của Công ty TNHH Đ – Chi nhánh Đ1 và sơ đồ kèm theo bản án.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà D cho ông T được lưu cư trong thời gian 02 tháng để tạo lập nơi ở mới và tháo dỡ công trình.
- Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Bà Lê Thị D tự nguyện chịu.
Về án phí: Bà Lê Thị D không phải chịu án phí DSST.
Ông Lê Đình T, bà Lê Thị L2 được miễn án phí DSST.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Liên |
Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- THANH HÓA về tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Số bản án: 05/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc tháo dỡ công trình trên đất
