|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - PHÚ THỌ Bản án số: 02/2026/HNGĐ-ST Ngày 12/01/2026 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoa
Bà Nguyễn Thị Kim Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Huyền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2025/TLST- HNGĐ ngày 31/10/2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 15/12/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy L, sinh năm 1990; nơi thường trú: khu V, xã H, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện nay: số B, đường K, thị trấn Z, huyện M, Đài Loan.
Bị đơn: Anh Đinh Ngọc H, sinh năm 1987; trú tại: khu V, xã H, tỉnh Phú Thọ. (Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Trần Thị Thúy L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã trình bày quan điểm tại Đơn khởi kiện ngày 11/9/2025 và bản tự khai ngày 11/9/2025, cụ thể:
Chị và anh Đinh Ngọc H tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tự nguyện ngày 05/12/2012 tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại khu V, xã H, tỉnh Phú Thọ. Đến năm 2018 chị qua Đài Loan sinh sống, làm việc. Do khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng không gặp nhau thường xuyên nên giữa anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, có nhiều sự khác biệt trong tính cách và lối sống sinh hoạt hàng ngày. Vợ chồng anh chị thường xuyên cãi nhau khiến cuộc sống chung hết sức nặng nề. Mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng, nên đến khoảng năm 2020, vợ chồng anh chị sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay chị thấy tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị xin ly hôn với anh Đinh Ngọc H.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Đinh Thị Ánh H1, sinh ngày 18/7/2013 và cháu Đinh Gia H2, sinh ngày 09/02/2016. Hiện 02 cháu đang ở với anh H. Khi ly hôn, chị đồng ý để anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, chị sẽ cấp dưỡng nuôi 02 con chung với mức 3.000.000 đồng/ tháng đến khi các cháu khôn lớn, trưởng thành. Trường hợp anh H không muốn nhận nuôi 02 con chung, chị sẽ nhận nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn là anh Đinh Ngọc H trình bày:
Về thời gian kết hôn, địa điểm kết hôn anh trình bày thống nhất với chị L. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị sống ở V được 04 năm thì đến khoảng tháng 8/2018 chị L đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Tháng 6/2019 anh đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Anh chị cùng chung sống ở Đài Loan khoảng hơn 01 năm thì đến tháng 6/2021 anh về nước do bị bệnh tật còn chị L vẫn ở Đài Loan. Trong thời gian từ khi anh về nước cho đến nay, hai vợ chồng không liên lạc với nhau. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị L có về Việt Nam cũng không về chung sống cùng chồng con. Nay chị L xin ly hôn anh không đồng ý, vì anh không làm gì xúc phạm, đánh đập vợ con và anh muốn các con của anh có đủ bố mẹ.
Về con chung: vợ chồng anh chị có 02 con chung như chị L trình bày, hiện cháu H1 đang học lớp 7A trường Trung học cơ sở M, cháu H2 đang học lớp 4A trường tiểu học M1. Khi ly hôn, anh H xin chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Phú Thọ đề nghị Tòa án:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật HNGĐ; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thúy L:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị L được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của chị L và anh H về việc: Giao cho anh H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Đinh Thị Ánh H1 và cháu Đinh Gia H2. Chị L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh H do anh không yêu cầu. Hai bên có quyền và nghĩa vụ đối với con chung không ai được ngăn cản.
- Tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Không giải quyết.
- Về án phí: chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: ... (Nội dung lược bỏ theo trang 2-3)
[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thúy L và anh Đinh Ngọc H đăng ký kết hôn ngày 05/12/2012 tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ nay là xã H, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn anh, chị được tự do tìm hiểu, lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Xét thấy chị L và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, việc kết hôn không vi phạm điều cấm nên là hôn nhân hợp pháp. Chị L cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh chị sống xa cách dẫn đến quan điểm sống ngày càng khác biệt nên đến năm 2020 vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Chị L cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Ngọc H. Theo anh H xác định vợ chồng không liên lạc với nhau và vợ chồng sống ly thân kể từ khi anh về nước là tháng 9/2021 cho đến nay. Tháng 7/2025, chị L có về Việt Nam nhưng không về nhà chung sống cùng chồng con. Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án đã tiến hành xác minh về quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H. Tại biên bản xác minh ngày 09/12/2025, chính quyền địa phương cung cấp: anh H và chị L có mâu thuẫn và cách đây vài năm muốn ly hôn; anh H có thời gian đi lao động cùng chị L ở nước ngoài nhưng do sức khỏe kém nên anh H về nước, từ đó vợ chồng càng mâu thuẫn, chị L về nước cũng không về sống cùng anh H mà sống ở nhà mẹ đẻ rồi lại đi nước ngoài.
Xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị L và anh H không đạt được, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy chị L yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Trần Thị Thúy L và anh Đinh Ngọc H đều xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Đinh Thị Ánh H1, sinh ngày 18/7/2013 và cháu Đinh Gia H2, sinh ngày 09/02/2016. Xét thấy hiện nay hai cháu H1 và H2 đang do anh H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị L đồng ý để anh H nuôi con vì vậy cần công nhận sự thỏa thuận của chị L và anh H để anh H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đinh Thị Ánh H1 và cháu Đinh Gia H2 là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Anh H tự nguyện không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con nên cần chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Trần Thị Thúy L và anh Đinh Ngọc H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chưa xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Trần Thị Thúy L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 123, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thúy L.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Thúy L được ly hôn với anh Đinh Ngọc H.
- Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Trần Thị Thúy L và anh Đinh Ngọc H về việc giao cả 02 con chung là cháu Đinh Thị Ánh H1 sinh ngày 18/7/2013 và cháu Đinh Gia H2 sinh ngày 09/02/2016 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng: Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh H không yêu cầu.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Thúy L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Trần Thị Thúy L đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004656 ngày 31/10/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Anh Đinh Ngọc H có quyền kháng cáo đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Trần Thị Thúy L có quyền kháng cáo đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 3 - Phú Thọ; - Các đương sự; - THADS tỉnh Phú Thọ; - UBND Hoàng Cương; - Lưu VP, HSVA |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Lan |
Bản án số 02/2026/HNGĐ-ST ngày 12/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 02/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
